12:01 08/10/2026

Lãi suất tăng chậm lại, người vay vẫn chịu sức ép từ mặt bằng mới

Đà tăng lãi suất toàn hệ thống đã chậm lại theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, khi nhiều ngân hàng điều chỉnh lãi suất cơ sở và tiếp tục cạnh tranh huy động vốn, áp lực trả nợ của khách hàng chưa thể sớm giảm, nhất là với những khoản vay sắp hết thời gian ưu đãi.

Thông tin tại cuộc họp báo chiều 7/10, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Phạm Thanh Hà cho biết, lãi suất vẫn chịu áp lực tăng, nhưng tốc độ tăng đã chậm lại và về cơ bản đang xoay quanh một mặt bằng mới.

Diễn biến này cho thấy nhịp điều chỉnh lãi suất đã có sự thay đổi. Song với người vay, điều đáng quan tâm còn là mức lãi phải trả sau mỗi lần ngân hàng điều chỉnh. Đà tăng chậm lại chưa đồng nghĩa chi phí vay vốn sẽ giảm, bởi nhiều khoản vay đang được tính toán lại trên nền lãi suất cao hơn trước.

Người vay đối diện kỳ điều chỉnh lãi suất

Trong tháng 9 và đầu tháng 10, một số ngân hàng thương mại tiếp tục cập nhật lãi suất cơ sở, lãi suất tham chiếu dùng để xác định lãi suất cho vay thả nổi. Đây là những thay đổi có ảnh hưởng trực tiếp đến khách hàng đã hết ưu đãi hoặc sắp đến kỳ điều chỉnh theo hợp đồng.

Tại ACB, lãi suất cơ sở áp dụng toàn hệ thống được điều chỉnh lên 9,5%/năm từ ngày 1/10/2026. VPBank cũng áp dụng biểu lãi suất cơ sở tiền đồng mới từ ngày 18/9/2026 đối với khách hàng cá nhân vay có tài sản bảo đảm. Mức áp dụng được chia theo thời điểm giải ngân, mục đích sử dụng vốn, thời hạn vay và chu kỳ điều chỉnh.

Với nhóm khoản vay bất động sản, tiêu dùng, mua ô tô và sản xuất kinh doanh giải ngân sau ngày 15/11/2024, lãi suất cơ sở tại VPBank dao động từ 11% đến 13%/năm nếu điều chỉnh mỗi tháng. Với chu kỳ điều chỉnh ba tháng, mức tương ứng nằm trong khoảng 11,8–13,5%/năm.

Chẳng hạn, khoản vay có thời hạn 12 tháng được áp dụng lãi suất cơ sở 12,2%/năm với kỳ điều chỉnh một tháng và 12,7%/năm với kỳ điều chỉnh ba tháng. Đối với khoản vay từ 5 đến 10 năm, hai mức này lần lượt là 12,9% và 13,4%/năm. Nhóm khoản vay còn lại có mức áp dụng thấp hơn, từ 9,4%/năm ở kỳ điều chỉnh một tháng; với khoản vay trên 15 năm, mức được công bố là 11,4%/năm.

Techcombank cũng công bố biểu lãi suất tham chiếu áp dụng từ ngày 15/9/2026. Theo đó, lãi suất cơ sở chuẩn của các khoản vay bất động sản, tiêu dùng thế chấp và mua ô tô ở mức 9%/năm cho các kỳ hạn; khoản vay tiêu dùng tín chấp có lãi suất cơ sở 13%/năm.

Ngoài mức chuẩn, ngân hàng này áp dụng mức riêng cho một số nhóm khoản vay. Lãi suất dự án dao động từ 9% đến 9,45%/năm; vay mua ô tô VinFast là 8,5%/năm, ô tô Thaco là 9,5%/năm; vay kinh doanh có tài sản bảo đảm là 8,8%/năm.

Lãi suất tăng chậm lại người vay vẫn chịu sức ép từ mặt bằng mới
Đà tăng lãi suất toàn hệ thống đã chậm lại theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước.

Cần phân biệt lãi suất cơ sở với lãi suất thực tế khách hàng phải thanh toán. Lãi suất cơ sở là một thành phần trong cách tính lãi suất thả nổi. Tùy thỏa thuận, ngân hàng có thể cộng thêm biên độ được quy định trong hợp đồng, thường khoảng 3–5%/năm. Vì vậy, người vay phải đối chiếu đúng công thức, biên độ và thời điểm điều chỉnh của khoản vay, thay vì chỉ nhìn vào biểu lãi suất được công bố.

Với những khách hàng đang trong thời gian hưởng ưu đãi, tác động có thể chưa thể hiện ngay trên số tiền trả hằng tháng. Nhưng khi ưu đãi kết thúc hoặc khoản vay đến kỳ điều chỉnh, chi phí lãi có thể tăng đáng kể. Các khoản vay dài hạn, dư nợ lớn sẽ chịu tác động rõ hơn, bởi người vay phải duy trì nghĩa vụ thanh toán trong nhiều năm.

Áp lực ở đầu ra có liên hệ với cuộc cạnh tranh huy động vốn ở đầu vào. Bước sang tháng 10, mức lãi suất được chào cho một số khoản tiền gửi đã cao hơn biểu niêm yết thông thường. Khoản gửi vài trăm triệu đồng có thể được chào mức trên 9%/năm; với số tiền từ vài tỷ đồng, có mức chào tiến gần 10%/năm, tùy điều kiện áp dụng.

Tại NCB, khoản gửi từ 500 triệu đến dưới 1 tỷ đồng, kỳ hạn 12 tháng, nhận lãi cuối kỳ được chào mức hơn 9,6%/năm, áp dụng cho cả gửi tại quầy và trực tuyến, cùng các chương trình khuyến mãi. Vikki Bank cũng chào mức 9,6%/năm cho số dư từ 500 triệu đồng, cao hơn mức thể hiện trên biểu niêm yết.

Trong khi đó, HDBank chào mức cao nhất 9,3%/năm đối với khoản gửi từ 2 tỷ đồng. Với số tiền từ 500 triệu đến dưới 1 tỷ đồng, kỳ hạn 6–13 tháng, mức chào dao động khoảng 9,08–9,2%/năm.

Các mức chào này gắn với số tiền, kỳ hạn và điều kiện cụ thể, không đại diện cho toàn bộ tiền gửi tại mỗi ngân hàng. Dù vậy, chúng cho thấy cạnh tranh thu hút nguồn vốn vẫn còn đáng kể. Khi chi phí huy động chưa giảm, khả năng hạ nhanh lãi suất cho vay cũng bị thu hẹp.

Ông Nguyễn Anh Khoa, Giám đốc Phân tích Chứng khoán Agriseco, nhận định lãi suất từ nay đến cuối năm khó giảm đáng kể. Nhu cầu vốn của nền kinh tế còn cao, trong khi tăng trưởng tiền gửi chưa theo kịp. Theo ông, khả năng xuất hiện một đợt tăng mạnh trên diện rộng không lớn, một vài phân khúc có thể giảm cục bộ, nhưng dư địa giảm thêm nhìn chung còn hạn chế.

Giữ cân bằng giữa vốn cho tăng trưởng và ổn định tiền tệ

Số liệu NHNN công bố cho thấy, đến ngày 30/9/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 20,75 triệu tỷ đồng, tăng 11,59% so với cuối năm 2025 và tăng 16,69% so với cùng kỳ năm trước. Quy mô vốn tiếp tục mở rộng đặt ra yêu cầu bảo đảm nguồn huy động tương ứng, đồng thời duy trì an toàn thanh khoản.

Đến ngày 20/9/2026, lãi suất tiền gửi bình quân của các giao dịch phát sinh mới ở mức 6,38%/năm, cao hơn cuối năm 2025 khoảng 1,15 điểm phần trăm. Đây là mức bình quân toàn hệ thống, khác với những mức lãi suất cao được chào cho từng nhóm khách hàng hoặc khoản tiền gửi đáp ứng điều kiện riêng.

Để bình ổn mặt bằng lãi suất, NHNN giữ nguyên các mức lãi suất điều hành, đồng thời làm việc trực tiếp với các ngân hàng thương mại, yêu cầu giảm lãi suất tiền gửi mới ở kỳ hạn từ sáu tháng trở lên, giảm lãi suất niêm yết và lãi suất cho vay.

Những biện pháp này hướng đến việc giảm sức ép chi phí vốn, qua đó tạo điều kiện hỗ trợ người vay. Tuy nhiên, hiệu quả còn phụ thuộc vào khả năng cân đối nguồn vốn của từng ngân hàng và diễn biến nhu cầu tín dụng. Khi nhu cầu vay tiếp tục tăng, việc giảm lãi suất cần đi cùng bảo đảm thanh khoản và khả năng cung ứng vốn.

Song song với điều hành lãi suất, NHNN thực hiện phân bổ hạn mức tín dụng linh hoạt. Phần dư nợ tăng thêm đối với nhà ở xã hội, khu công nghiệp, khu chế xuất và du lịch nghỉ dưỡng không tính vào hạn mức kiểm soát tín dụng bất động sản chung, nhằm tạo điều kiện cho những lĩnh vực này tiếp cận vốn.

Lãi suất tăng chậm lại người vay vẫn chịu sức ép từ mặt bằng mới
Khi nhiều ngân hàng điều chỉnh lãi suất cơ sở và tiếp tục cạnh tranh huy động vốn, áp lực trả nợ của khách hàng chưa thể sớm giảm, nhất là với những khoản vay sắp hết thời gian ưu đãi.

Các chương trình tín dụng trọng điểm cũng tiếp tục được triển khai. Chương trình lâm sản, thủy sản đã nâng quy mô lên 185.000 tỷ đồng, với doanh số giải ngân lũy kế gần 238.120 tỷ đồng. Chương trình 500.000 tỷ đồng dành cho đầu tư hạ tầng và công nghệ số ghi nhận dư nợ 16.910 tỷ đồng. Chương trình cho vay nhà ở xã hội có doanh số giải ngân đạt 17.500 tỷ đồng.

Những chỉ tiêu trên phản ánh các cách đo khác nhau: quy mô chương trình, doanh số giải ngân lũy kế và dư nợ tại thời điểm báo cáo. Do đó, cần phân biệt khi đánh giá mức độ triển khai và lượng vốn đang được sử dụng trong nền kinh tế.

Trong tháng 8/2026, NHNN còn chỉ đạo triển khai gói tín dụng với lãi suất ưu đãi thấp hơn tối thiểu 1%/năm cho doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng các động lực tăng trưởng. Việc hỗ trợ theo nhóm đối tượng giúp đưa vốn đến những khu vực cần khuyến khích, trong bối cảnh mặt bằng lãi suất chung chưa có nhiều điều kiện để giảm sâu.

Ở góc độ điều hành, ông Phạm Chí Quang, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, cho biết diễn biến lạm phát toàn cầu và xu hướng thắt chặt của các ngân hàng trung ương lớn tiếp tục gây sức ép lên lãi suất trong nước.

Sau mức tăng trưởng tín dụng 19,07% của năm 2025, nhu cầu cung ứng vốn để phục vụ tăng trưởng kinh tế vẫn lớn. Tuy nhiên, mở rộng tín dụng cũng phải gắn với kiểm soát lạm phát. Với một nền kinh tế có độ mở cao như Việt Nam, biến động tỷ giá có thể làm tăng chi phí nhập khẩu và truyền sức ép giá cả vào thị trường trong nước.

Bởi vậy, điều hành lãi suất phải được đặt trong quan hệ với tỷ giá, lạm phát và thanh khoản. NHNN cho biết sẽ tiếp tục quản lý chặt các kênh cung ứng tiền, theo dõi diễn biến giá tiêu dùng và thị trường ngoại hối để có phản ứng kịp thời, vừa hỗ trợ tăng trưởng vừa giữ ổn định kinh tế vĩ mô.

Đà tăng lãi suất chậm lại là tín hiệu tích cực, nhưng sức ép với người vay vẫn hiện hữu trên mặt bằng mới. Điều họ cần chờ đợi là chi phí vay thực tế giảm xuống. Khi lãi suất cơ sở còn cao và nguồn vốn huy động vẫn phải cạnh tranh, mỗi kỳ điều chỉnh khoản vay vẫn là thời điểm cần tính lại khả năng trả nợ.

Thanh Cao