10:38 01/05/2023

Làm gì để bảo vệ bản quyền nội dung số trước sân chơi toàn cầu?

Với sự hỗ trợ của công nghệ, một cá nhân, tổ chức có thể cho ra đời hàng chục, thậm chí hàng trăm nội dung số mỗi tháng. Điều này đặt ra nhiều thách thức cho công tác quản lý, đặc biệt là việc kiểm soát vấn đề vi phạm bản quyền cũng như tạo động lực cho lĩnh vực nội dung số trong nước phát triển.

Làm gì để bảo vệ bản quyền nội dung số trước sân chơi toàn cầu
Hình minh họa

Cơ sở pháp lý chưa vững chắc

Theo thống kể của cơ quan chức năng, tính đến tháng 1/2023, Việt Nam có 77,93 triệu người dùng internet, tương đương gần 80% tổng dân số, tăng 5,3 triệu dân so với năm 2022. Tại Việt Nam, hiện có 66,2 triệu người dùng Facebook; 63 triệu người dùng Youtube; 10,3 triệu người dùng Instagram; 49,86 triệu người dùng Tik Tok, với khoảng 2 triệu thuê bao Netflix.

Ngành kinh doanh nội dung số rất đa dạng, song tồn tại chủ yếu ở nền tảng xuyên biên giới như YouTube, Facebook, TikTok; Kinh doanh trên nền tảng âm nhạc trực tuyến như Spotify, Apple Music, Amazon Music...; Game online phát hành trên Apple Store và CH Play.

Trong đó, YouTube là nền tảng được người Việt sáng tạo nội dung nhiều bậc nhất. Năm 2022, khoảng 20.000 người kiếm tiền trên hạ tầng này, với hàng triệu người liên quan, mang về khoản doanh thu ngoại tệ tương đương 1.500 tỷ đồng. Việt Nam hiện có gần 500 kênh YouTube đạt nút vàng (hơn 1 triệu người đăng ký và 8 kênh đạt nút kim cương (trên 10 triệu lượt đăng ký).

Trước sự hỗ trợ mạnh mẽ của công nghệ, việc tổ chức sáng tạo nội dung số ngày càng trở nên dễ dàng với mọi tổ chức, cá nhân. Thậm chí, một cá nhân hoặc một tổ chức có thể sáng tạo ra hàng chục đến cả trăm nội dung số mỗi tháng… Đây rõ ràng là thách thức không chỉ cho các chủ sở hữu nội dung, mà là của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền lẫn các nền tảng cung cấp dịch vụ trung gian.

Chia sẻ với báo điện tử VOV, ông Hoàng Đình Chung, Giám đốc Trung tâm Bản quyền số - Hội Truyền thông số Việt Nam, cho rằng: “Để bảo vệ số lượng lớn sản phẩm nội dung số như vậy mà chúng ta làm thủ công thì rất khó, khó trong vấn đề đăng ký bảo vệ và khó về quét các hành vi ăn cắp bản quyền trên môi trường số”.

Theo ông Chung, khó khăn nữa là các vấn đề về bằng chứng điện tử, trên môi trường số các hoạt động về xâm phạm, thông thường chúng ta phải lập phi bằng, gây tốn kém khiến các chủ nội dung e ngại khi phát hiện vi phạm và chứng minh rằng đối tượng kia có vi phạm hay không. Điều này là việc mà pháp luật cũng nên xem xét công nhận bằng chứng điện tử trong vấn đề vi phạm bản quyền trên môi trường số.

Thực tế, doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam nói chung và doanh nghiệp nội dung số Việt nói riêng phải đối mặt với nhiều thách thức khi đã có hành lang pháp lý nhưng lại rất khó áp dụng cho các nền tảng xuyên biên giới. Đồng thời, thiếu công cụ hữu hiệu để chống độc quyền, chống cạnh tranh không lành mạnh, bảo vệ các doanh nghiệp Việt trên không gian mạng.

Theo ông Chung, đối mặt với những đối thủ có tiềm lực kinh tế, hiểu biết về pháp luật quốc tế, chúng ta cần có những bước đi đồng hành trong việc đi ra sân chơi toàn cầu”.

Nhiều dư địa phát triển nội dung số “Make in Vietnam”

Các nhà chuyên môn cho rằng lĩnh vực nội dung số đang phát triển rất nhanh ở Việt Nam, với mức doanh thu ghi nhận vào năm 2022 đạt khoảng 800 triệu USD. Lĩnh vực này cũng được dự báo sẽ còn nhiều dư địa để các tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam phát triển.

Theo ông Nguyễn Thiện Nghĩa, Phó Cục trưởng phụ trách Cục Công nghiệp CNTT - Truyền thông, Bộ TT&TT, khi các ngành sản xuất chủ yếu dựa trên máy móc thì ngành công nghiệp thông tin chủ yếu dựa trên con người. Khi các ngành công nghiệp sản xuất dựa trên vật liệu thì ngành công nghệ thông tin dựa trên dữ liệu, do đó để thức đẩy công nghệ thông tin chúng ta cần có chính sách đặc thù.

Ông Nghĩa lấy ví dụ: “Chẳng hạn thay vì miễn thuế nhập khẩu linh kiện hay giảm thuế doanh nghiệp, chúng ta phải miễn thuế thu nhập cá nhân. Để thúc đẩy sự sáng tạo, thuế thu nhập cá nhân giải quyết rất nhiều vấn đề. Nó giúp người sáng tạo làm ở nhiều công ty khác nhau, khi họ vẫn được hưởng thu nhập cá nhân đó. Đây là một trong những chính sách mà Bộ TT&TT sẽ tập trung trong thời gian tới”.

Mặt khác, ngành công nghệ thông tin cần thúc đẩy “Make in Vietnam”, song ngành nội dung số chưa chú trọng.

“Hiện nay, việc sáng tạo nội dung có sự đồng hành của công nghệ. Ví dụ như đối với việc phát triển trí tuệ nhân tạo, khi có những nền tảng như ChatGPT, ngành công nghiệp nội dung sẽ có nền tảng tương tự. Vậy nội dung sản xuất bằng những nền tảng đó bản quyền thuộc về ai? Hoặc khi chúng ta nhận video deepfake, hoặc video được sản xuất bằng AI thì sẽ có chính sách gì? Một số quốc gia đã đưa ra yêu cầu là các video được sản xuất hoặc hỗ trợ từ AI thì phải ghi rõ ràng để người dùng quyết định có theo dõi nội dung đấy không. Việt Nam chưa có”, ông Nghĩa bày tỏ.

Cũng theo ông Nghĩa, việc dùng AI sản xuất nội dung là một xu hướng mới có nhiều tiềm năng, tuy nhiên, ở Việt Nam xuất hiện chưa nhiều. Đây là nội dung mà Bộ TT&TT sẽ phải thúc đẩy, đồng thời có những quy chuẩn, tiêu chuẩn về bản quyền khi cá nhân, tổ chức ứng dụng AI để sản xuất nội dung.

Về góc độ đồng hành cùng doanh nghiệp, ông Nghĩa nêu rõ, năm 2023 là năm Bộ TT&TT bắt đầu giương cao ngọn cờ để giúp các doanh nghiệp phát triển thị phần của mình đi nước ngoài trong lĩnh vực phần mềm, phần cứng hoặc nội dung số.

Nội dung số là một lĩnh vực khá mới thường xuyên phát sinh những vướng mắc, bất cập chưa có tiền lệ ở Việt Nam, thậm chí trên quy mô toàn cầu, đặc biệt là việc bảo vệ bản quyền nội dung số và kinh doanh quảng cáo số.

Vì vậy, thực tiễn luôn đòi hỏi phải có những phương thức mới trong vận hành và quản lý của cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp sản xuất nội dung, doanh nghiệp quảng cáo cũng như người dùng cuối cùng để có điều chỉnh và hành vi ứng xử phù hợp.

Thái Đạt