Chuyện giao dịch mua hàng ở nước ngoài qua thương mại điện tử (TMĐT) ngày càng trở nên thuận lợi hơn về cả phương thức giao dịch lẫn cách thức thanh toán, nhận hàng. Tuy nhiên để quản lý và giám sát việc tuân thủ pháp luật của các bên liên quan khi tham gia giao dịch vẫn đang là bài toán khó.
Vừa qua, Bộ Tài chính đang lấy ý kiến dự thảo Nghị định về quản lý hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được giao dịch qua thương mại điện tử (TMĐT), qua đó đề xuất chính sách để chặn tình trạng “né thuế” khi mua hàng nhập khẩu qua TMĐT.
Đồng thời, theo báo cáo về chỉ số TMĐT Việt Nam trong 5 năm gần đây cho thấy, tốc độ tăng trưởng TMĐT trung bình năm của Việt Nam từ 25 - 30%. Nếu Việt Nam vẫn duy trì mức độ tăng trưởng này thì quy mô thị trường TMĐT Việt Nam năm 2025 sẽ đứng thứ ba ở khu vực Đông Nam Á. Đặc biệt TMĐT đang là giải pháp hữu hiệu trong bối cảnh dịch Covdi-19.
Từ thực tế, cần thiết phải có những biện pháp quản lý mới phù hợp với hoạt động giao dịch TMĐT qua biên giới, đảm bảo việc quản lý hải quan nhưng không ảnh hưởng đến sự phát triển của hoạt động TMĐT qua biên giới và phù hợp với thông lệ quốc tế. Để hiểu rõ về vấn đề trên, phóng viên đã có cuộc trao đổi với Luật sư Hoàng Tùng, Trưởng Văn phòng Luật sư Trung Hòa, Đoàn luật sư TP. Hà Nội.
Giao dịch qua thương mại điện tử vẫn còn nhiều "lỗ hổng" trong quan lý
Xin luật sư cho biết, hành vi trốn thuế trong giao dịch TMĐT sẽ bị xử lý, xử phạt như thế nào? Theo điều khoản quy định nào của pháp luật?
Trước hết, tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 của Chính phủ về thương mại điện tử quy định rõ: “Hoạt động thương mại điện tử là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác”. Tổ chức trong nước có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử phải nộp các loại thuế, phí sau: Lệ phí môn bài, thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN). Tổ chức là chủ sở hữu sàn giao dịch thương mại điện tử thực hiện việc khai thuế thay, nộp thuế thay cho cá nhân theo lộ trình của cơ quan thuế.
Tại Nghị định 125/2020/NĐ-CP quy định về xử phạt các hành vi liên quan đến thuế như sau:
Tại Điều 17. Xử phạt hành vi trốn thuế: Phạt tiền 01 lần số thuế trốn đối với người nộp thuế có từ một tình tiết giảm nhẹ trở lên; Phạt tiền 1,5 lần số tiền thuế trốn đối với người nộp thuế thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều này mà không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; Phạt tiền 2 lần số thuế trốn đối với người nộp thuế thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều này mà có một tình tiết tăng nặng; Phạt tiền 2,5 lần số tiền thuế trốn đối với người nộp thuế thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều này có hai tình tiết tăng nặng; Phạt tiền 3 lần số tiền thuế trốn đối với người nộp thuế thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều này có từ ba tình tiết tăng nặng trở lên.
Theo đó phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả như: Buộc nộp đủ số tiền thuế trốn vào ngân sách nhà nước đối với các hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều này. Trường hợp hành vi trốn thuế theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 ,4, 5 Điều này đã quá thời hiệu xử phạt thì người nộp thuế không bị xử phạt về hành vi trốn thuế nhưng người nộp thuế phải nộp đủ số tiền thuế trốn, tiền chậm nộp tính trên số tiền thuế trốn vào ngân sách nhà nước theo thời hạn quy định tại khoản 6 Điều 8 Nghị định này. Buộc điều chỉnh lại số lỗ, số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ trên hồ sơ thuế (nếu có) đối với hành vi quy định tại khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều này.
Các hành vi vi phạm quy định tại điểm b, đ, e khoản 1 Điều này bị phát hiện sau thời hạn nộp hồ sơ khai thuế nhưng không làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc chưa được hoàn thuế, không làm tăng số tiền thuế được miễn, giảm thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 3 Điều 12 Nghị định này.
Xử lý hành chính đối với hành vi trốn thuế theo quy định tại điều 13 thông tư 166/2013/TT-BTC theo đó thường với hành vi trốn thuế việc xử phạt sẽ căn cứ trên số thuế trốn dưới 100 triệu và bị xử phạt theo cấp số nhân với mức thuế đã trốn áp dụng đối với những hành vi trốn thuế trước ngày 05/12/2020. Ngoài ra, còn rất nhiều hành vi liên quan đến thuế, hóa đơn khác.
Thưa luật sư, với hành vi trốn thuế trường hợp nào sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự? Quy định tại điều khoản nào của pháp luật?
Tại Điều 200 BLHS quy định và Điều 200. Tội trốn thuế quy định rõ: Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây trốn thuế với số tiền từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 202, 250, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định của pháp luật; Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp; Không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ hoặc ghi giá trị trên hóa đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế của hàng hóa, dịch vụ đã bán; Sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp để hạch toán hàng hóa, nguyên liệu đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm hoặc tăng số tiền thuế được khấu trừ, số tiền thuế được hoàn;
Sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp pháp khác để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được hoàn; Khai sai với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà không khai bổ sung hồ sơ khai thuế sau khi hàng hóa đã được thông quan, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 188 và Điều 189 của Bộ luật này; Cố ý không kê khai hoặc khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 188 và Điều 189 của Bộ luật này; Câu kết với người gửi hàng để nhập khẩu hàng hóa, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 188 và Điều 189 của Bộ luật này; Sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế không đúng mục đích quy định mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng với cơ quan quản lý thuế.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm: Có tổ chức; Số tiền trốn thuế từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; Phạm tội 02 lần trở lên; Tái phạm nguy hiểm.
Phạm tội trốn thuế với số tiền 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 1.500.000.000 đồng đến 4.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Luật sư Hoàng Tùng
Hiện nay Bộ Tài chính đang lấy ý kiến dự thảo Nghị định về quản lý hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được giao dịch qua thương mại điện tử (TMĐT). Để siết chặt tình trạng “né thuế” Luật sư Hoàng Tùng, Trưởng Văn phòng Luật sư Trung Hòa, Đoàn luật sư TP. Hà Nội nhấn mạnh: “Cần xác định cụ thể hình thức áp thuế, trường hợp áp thuế; Cần có chế tài xử phạt cụ thể, phù hợp với từng hành vi, mức độ vi phạm; Xác định rõ các loại hành vi vi phạm về thuế”.
Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau: Thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều này trốn thuế với số tiền từ 200.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195 và 196 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d và đ khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng; Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm; Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn; Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.
Vậy thưa luật sư những chế tài quy định của pháp luật hiện hành có những hạn chế và vướng mắc như thế nào trong hoạt động thương mại điện tử?
Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 quy định về Thương mại điện tử đã có những điều chỉnh nhất định về hoạt động này. Đây là một trong những hành lang pháp lý của hoạt động thương mại điện tử hiện nay. Tuy nhiên, qua quá trình phát triển thực tế của xã hội thì hành lang pháp lý còn nhiều hạn chế:
Khung pháp lý quản lý hoạt động TMÐT hiện vẫn áp dụng chung cho cả mạng xã hội và sàn giao dịch TMÐT mà chưa tính đến những khác biệt cơ bản
Hiện nay, xu hướng sử dụng mạng xã hội làm kênh tiếp thị, phân phối hàng hóa đang có chiều hướng gia tăng. Thế nhưng, các khuôn khổ pháp lý cho hoạt động TMÐT, hoạt động của mạng xã hội đã được xây dựng chủ yếu từ năm 2013. Do các quy định này được xây dựng ở giai đoạn đầu của TMÐT, rất nhiều vấn đề chưa được đề cập hoặc được quy định rất chung chung, chỉ mang tính nguyên tắc đang gây không ít khó khăn trong quá trình áp dụng. Hơn nữa, thực tiễn hoạt động TMÐT trên internet phát triển quá nhanh nên nhiều quy định đã trở nên lạc hậu, không còn phù hợp thực tế. Khung pháp lý quản lý hoạt động TMÐT hiện vẫn áp dụng chung cho cả mạng xã hội và sàn giao dịch TMÐT mà chưa tính đến những khác biệt cơ bản.
Trong khi sự phát triển của thương mại điện tử ngày một lớn, các hoạt động phát sinh, các chương trình áp dụng ngày một nhiều nhằm phục vụ thuận tiện hơn nhu cầu của người dân thì các quy định nêu trên đã không còn phù hợp nữa.
Thiếu chế tài cho các hành vi vi phạm kinh doanh Thương mại điện tử qua mạng xã hội và nền tảng thiết bị di động. Bên cạnh website Thương mại điện tử, các mạng xã hội, đặc biệt là Facebook, được sử dụng rất phổ biến ở Việt Nam. Hiện số người sử dụng các diễn đàn mạng xã hội để mua sắm trực tuyến cũng gia tăng. Số doanh nghiệp sử dụng nền tảng di động như kênh liên lạc giữa nhà bán lẻ và người tiêu dùng ngày càng tăng. Do đó, quản lý các mạng xã hội kinh doanh Thương mại điện tử cũng như nền tảng di động cũng không kém phần cấp thiết.
Hiện nay chưa có quy định quản lý Thương mại điện tử trên nền tảng di động cũng như chế tài tương ứng với hành vi vi phạm; quy định chưa rõ ràng đối với danh sách các website Thương mại điện tử khuyến cáo người tiêu dùng thận trọng; thiếu hướng dẫn chi tiết về quy trình giao kết hợp đồng mua hàng trực tuyến; Thông tư số 47/2014/TT-BCT quy định, các công ty có trang web bán hàng, các trang mạng xã hội phải đăng ký trên sàn giao dịch điện tử và các trang mạng xã hội phải có trách nhiệm quản lý thông tin, hoạt động của người đăng ký trên trang mạng xã hội của mình. Trách nhiệm của doanh nghiệp phải kê khai nhưng thường doanh nghiệp vẫn né tránh và việc này chưa có chế tài.
Xin cảm ơn luật sư!
Hải Bình