Theo Tổng cục Thống kê, tháng 3/2023, giá thực phẩm giảm do nguồn cung dồi dào; giá xăng dầu, giá gas giảm theo giá nhiên liệu thế giới là nguyên nhân chính làm CPI giảm 0,23% so với tháng trước. Tính chung quý I/2023, CPI tăng 4,18% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 5,01%.
Kinh tế thế giới tiếp tục có nhiều biến động phức tạp và bất ổn
Sáng 29/3, Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) tổ chức họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội quý I/2023. Tại cuộc họp báo, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Nguyễn Thị Hương cho biết, kinh tế - xã hội 3 tháng đầu năm 2023 của nước ta diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục có nhiều biến động phức tạp và bất ổn.
Theo đó, lạm phát toàn cầu mặc dù đã hạ nhiệt nhưng vẫn ở mức cao; sự phục hồi chậm và suy giảm nhu cầu tiêu dùng của các đối tác thương mại lớn. Sự bất ổn của một số ngân hàng ở Mỹ, châu Âu ảnh hưởng đến niềm tin của người dân trên thế giới đối với hệ thống ngân hàng, trong khi các ngân hàng trung ương tiếp tục tăng lãi suất và sử dụng chính sách thắt chặt tiền tệ hơn nữa. Giá năng lượng thế giới tăng cao; chiến sự Nga-Ukraine kéo dài...
Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) tổ chức họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội quý I/2023.
Các tổ chức quốc tế đưa ra nhận định khác nhau về tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2023, nhưng cùng thống nhất về dự báo mức tăng trưởng thấp hơn năm 2022 từ 0,5 đến 1,2 điểm phần trăm.
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) nhận định, tăng trưởng toàn cầu năm 2023 đạt 2,9%, cao hơn 0,2 điểm phần trăm so với dự báo đưa ra tại thời điểm tháng 10/2022. Fitch Ratings (FR) điều chỉnh tăng 0,6 điểm phần trăm so với dự báo trong tháng 12/2022, đạt mức 2% trong năm 2023. Còn Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) dự báo đạt 2,6%, tăng 0,4 điểm phần trăm so với dự báo trong tháng 11/2022.
Ngân hàng Thế giới (WB) và Liên Hợp quốc (UNDESA) đưa ra dự báo bi quan hơn về tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2023. WB nhận định tăng trưởng toàn cầu chỉ đạt 1,7%, thấp hơn 1,3 điểm phần trăm so với dự báo trong tháng 6/2022. Trong khi UNDESA nhận định tăng trưởng kinh tế toàn cầu chỉ đạt 1,9%, giảm 1,2 điểm phần trăm so với dự báo trong tháng 6/2022.
Tại khu vực Đông Nam Á, WB dự báo tăng trưởng kinh tế của Indonesia, Malaysia và Thái Lan lần lượt đạt 4,8%, 4,0% và 3,6% trong năm 2023, lần lượt giảm 0,5, 0,5 và 0,7 điểm phần trăm so với dự báo trong tháng 6/2022; Philipines và Việt Nam lần lượt đạt 5,4% và 6,3%, giảm 0,2 điểm phần trăm.
GDP quý I/2023 ước tăng 3,32%
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, quý I/2023, GDP tăng trưởng 3,32% so với cùng kỳ năm trước. Trong giai đoạn 2011-2023, kết quả này chỉ cao hơn tốc độ tăng 3,21% của quý I năm 2020. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,52%, đóng góp 8,85% vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng giảm 0,4%, làm giảm 4,76%; khu vực dịch vụ tăng 6,79%, đóng góp 95,91%.
Trong mức tăng chung của nền kinh tế, khu vực dịch vụ thể hiện rõ sự phục hồi, nhờ hiệu quả của các chính sách kích cầu tiêu dùng nội địa, mở cửa nền kinh tế khi dịch COVID-19 được kiểm soát, các hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch Việt Nam tới các nước trên thế giới được đẩy mạnh.
Tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm một số ngành dịch vụ quý I năm 2023 như sau: Dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 25,98% so với cùng kỳ năm trước; ngành bán buôn và bán lẻ tăng 8,09%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,65%; ngành vận tải, kho bãi tăng 6,85%.
Đáng chú ý, tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố trực Trung ương (GRDP) quý I/2023 so với cùng kỳ năm trước tăng ở 58 địa phương và giảm ở 5 địa phương trên cả nước.
Về cơ cấu nền kinh tế quý I/2023, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỉ trọng 11,66%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 35,47%; khu vực dịch vụ chiếm 43,65%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,22% (cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2022 là 11,57%; 37,08%; 42,06%; 9,29%).
Về sử dụng GDP quý I/2023, tiêu dùng cuối cùng tăng 3,01% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 46,11% vào tốc độ tăng chung; tích lũy tài sản tăng 0,02%, đóng góp 0,14%; chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ đóng góp 53,75%.
Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Nguyễn Thị Hương phát biểu tại họp báo.
Lạm phát quý I/2023 tăng hơn 5%, nguyên nhân do đâu?
Về chỉ số giá tiêu dùng (CPI), tháng 3/2023, giá thực phẩm giảm do nguồn cung dồi dào; giá xăng dầu, giá gas giảm theo giá nhiên liệu thế giới là nguyên nhân chính làm CPI giảm 0,23% so với tháng trước. Tính chung quý I/2023, CPI tăng 4,18% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 5,01%.
Các yếu tố làm tăng CPI quý đầu năm là nhóm nhà ở và vật liệu, giá thực phẩm, học phí, chỉ số giá nhóm văn hoá, giải trí và du lịch, giá điện sinh hoạt, giá gạo. Ngược lại, xăng dầu, gía gas, giá bưu chính viễn thông là những yếu tố kéo giảm CPI. Quý I/2023, lạm phát cơ bản bình quân tăng 5,01% so với bình quân cùng kỳ năm 2022, cao hơn mức CPI bình quân chung (tăng 4,18%).
Nguyên nhân chủ yếu do bình quân giá xăng dầu trong nước quý I/2023 giảm 11,09% so với cùng kỳ năm trước là yếu tố kiềm chế tốc độ tăng của CPI nhưng thuộc nhóm hàng được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.
Bà Nguyễn Thị Hương, Tổng Cục trưởng Tổng cục Thống kê nhận định, quý I/2023, giá hàng hóa trên thị trường thế giới chịu tác động bởi các yếu tố kinh tế, xã hội, chính trị của các nước và xung đột quân sự Nga - Ukraine. Đồng thời nhiều quốc gia thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt khiến lạm phát thế giới có dấu hiệu hạ nhiệt tuy nhiên vẫn ở mức cao.
Trong nước, nhu cầu sản xuất hàng hóa, dịch vụ phục vụ Tết Nguyên đán và giá nguyên liệu đầu vào đã đẩy giá sản xuất tăng lên. Chỉ số giá sản xuất, chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất quý I năm nay tăng so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa có xu hướng giảm theo thị trường thế giới.
Theo dự báo, từ nay đến cuối năm còn nhiều yếu tố đan xem làm tăng, giảm áp lực lên mặt bằng giá.
Theo đó, hiện nay, giá năng lượng và các vật tư chiến lược được dự báo vẫn còn nhiều biến động phức tạp do tác động từ diễn biến xung đột chính trị quân sự Nga – Ukraine và sự phân cực trong quan hệ giữa các nước lớn có xu hướng gia tăng trở lại cùng tác động từ sự phục hồi của kinh tế Trung Quốc.
Căn cứ diễn biến giá dầu thô và giá dầu thành phẩm thế giới, Bộ Công Thương dự báo giá bình quân dầu thô thế giới trong quý 2 sẽ dao động ở mức 85 – 95 USD/thùng, tương ứng dự báo giá thành phẩm các mặt hàng xăng dầu sẽ ở mức 90 – 100 USD/thùng đối với các mặt hàng xăng, dầu diesel, mức này giảm khoảng 26,15 - 39,39% so với cùng kỳ năm 2022.
Tổng cục Thống kê ước tính nhóm dịch vụ giáo dục sẽ làm CPI năm 2023 tăng khoảng 0,82 - 1,09%; giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh thuộc nhóm dịch vụ sự nghiệp công thực hiện lộ trình thị trường trong năm 2023 ước làm CPI chung tăng khoảng 0,16 - 0,25%; giá dich vụ vận chuyển hàng không ước tác động đến chỉ số CPI 2023 khoảng 0,07%.
Bên cạnh đó, giá điện, giá sách giáo khoa, chương trình hỗ trợ phục hồi, giải ngân đầu tư công của Chính phủ, dịch vụ du lịch... dự kiến sẽ gây áp lực lên mặt bằng giá trong những tháng còn lại của năm.
Tuy nhiên, cũng còn một số yếu tố giảm áp lực lên mặt bằng giá như nguồn cung các mặt hàng tiêu dùng, lương thực, thực phẩm trên thị trường hiện vẫn dồi dào. Triển vọng kinh tế thế giới chậm lại và lạm phát toàn cầu có thể hạ nhiệt trong năm 2023 cũng có thể giúp Việt Nam giảm bớt áp lực lạm phát; đồng thời, giúp cải thiện yếu tố tâm lý, kỳ vọng, hỗ trợ kiểm soát lạm phát năm 2023…
Trong khi đó, Bộ Tài chính cũng đưa ra ba kịch bản lạm phát quý 2 và các tháng còn lại của năm 2023. Theo đó, Bộ Tài chính dự báo CPI bình quân năm 2023 tăng trong khoảng 3,9 - 4,8%. Tổng cục Thống kê dự báo CPI bình quân trong khoảng 3,8% - 4,8%. Ngân hàng nhà nước Việt Nam dự báo lạm phát bình quân năm 2023 tăng trong khoảng 4,3 ± 0,5%.
Theo ước tính của Bộ Tài chính, nếu kịch bản CPI các tháng còn lại tăng đều một tỷ lệ như nhau so với tháng trước thì trong 9 tháng còn lại, CPI mỗi tháng còn dư địa tăng 0,52% để đảm bảo mục tiêu kiểm soát lạm phát bình quân năm 2023 khoảng 4,5%.
Hồng Quang