Nhịp bơm – hút tiền trên thị trường mở đang phản ánh những thay đổi nhanh của thanh khoản ngân hàng. Lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh, trong khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động, đặt ra yêu cầu cân đối nguồn vốn, kiểm soát chi phí và duy trì ổn định tiền tệ.
Thanh khoản biến động, OMO liên tục đổi chiều
Diễn biến thị trường tiền tệ cuối tháng 9 và đầu tháng 10/2026 cho thấy thanh khoản hệ thống ngân hàng có sự thay đổi đáng kể theo từng thời điểm. Lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh trong những phiên cuối quý III, sau đó giảm nhanh trong tuần đầu tháng 10, trong khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chuyển sang hút ròng tiền qua nghiệp vụ thị trường mở (OMO).
Lãi suất VND qua đêm liên ngân hàng ngày 30/9 lên 6,95%/năm. Sang ngày 1/10, mức này giảm còn 4,29%/năm; ngày 2/10 còn 2,73%/năm và đến ngày 7/10 xuống 0,72%/năm. Như vậy, chỉ trong một tuần, lãi suất qua đêm đã giảm hơn 6 điểm phần trăm so với mức cuối tháng 9. Đây là diễn biến cho thấy nhu cầu vốn ngắn hạn giữa các tổ chức tín dụng thay đổi nhanh, không đồng nhất qua các phiên giao dịch.
Ở chiều điều tiết, trong tuần từ ngày 28/9 đến 2/10, NHNN hút ròng khoảng 53.475 tỷ đồng qua OMO do lượng vốn đáo hạn lớn hơn lượng vốn bơm mới. Sang đầu tháng 10, hoạt động hút tiền tiếp tục được duy trì. Riêng phiên 7/10, NHNN có hơn 10.740 tỷ đồng đáo hạn, trong khi khối lượng trúng thầu mới chỉ đạt hơn 1.546 tỷ đồng. Kết quả, nhà điều hành hút ròng khoảng gần 9.196 tỷ đồng trong phiên này; lượng vốn lưu hành trên kênh cầm cố còn khoảng 94.213 tỷ đồng.
Ảnh minh họa
Các số liệu trên cho thấy việc NHNN hút ròng không đồng nghĩa thanh khoản toàn hệ thống lập tức thiếu hụt. Khi nhu cầu vay mượn ngắn hạn giảm, lượng tiền khả dụng giữa các ngân hàng được cải thiện hoặc phân bổ lại, lãi suất liên ngân hàng có thể giảm ngay cả khi nhà điều hành thu hồi một phần vốn đã hỗ trợ trước đó.
Về cơ chế, OMO cho phép NHNN cung ứng tiền thông qua các giao dịch mua giấy tờ có giá có kỳ hạn, đồng thời thu hồi tiền khi các khoản này đáo hạn mà không được tái cấp vốn tương ứng. Việc phát hành tín phiếu cũng có thể được sử dụng để hút tiền khỏi hệ thống. Tuy nhiên, đánh giá trạng thái thanh khoản cần dựa trên cả lượng bơm mới, lượng đáo hạn, quy mô vốn lưu hành và nhu cầu thanh toán thực tế, thay vì chỉ nhìn vào con số bơm ròng hoặc hút ròng trong một phiên.
Tại họp báo ngày 7/10, Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà cho biết cơ quan điều hành đã sử dụng linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ trong chín tháng đầu năm, nhằm ổn định thị trường tiền tệ và bảo đảm nhu cầu thanh toán của các tổ chức tín dụng. NHNN tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành, đồng thời yêu cầu các ngân hàng triển khai giải pháp ổn định mặt bằng lãi suất và công khai lãi suất cho vay.
Trọng tâm điều hành không chỉ là bơm thêm tiền để hạ lãi suất, mà còn duy trì trạng thái thanh khoản phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Chi phí vốn chưa hết áp lực
Nếu OMO phản ánh trạng thái thanh khoản trong ngắn hạn, tăng trưởng tín dụng và huy động vốn mới là những yếu tố có ảnh hưởng lớn đến khả năng cân đối nguồn vốn của các ngân hàng trong trung và dài hạn.
Theo thông tin NHNN công bố tại họp báo ngày 7/10, đến ngày 30/9/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 20,75 triệu tỷ đồng, tăng 11,59% so với cuối năm 2025 và tăng 16,69% so với cùng kỳ năm trước. Quy mô tín dụng tiếp tục mở rộng trong bối cảnh nền kinh tế cần vốn cho sản xuất, kinh doanh, đầu tư và tiêu dùng.
Trong khi đó, số liệu của NHNN cho thấy đến ngày 20/9, lãi suất tiền gửi bình quân đối với các giao dịch phát sinh mới đạt 6,38%/năm, tăng 1,15 điểm phần trăm so với cuối năm 2025. Theo cơ quan quản lý, tốc độ tăng lãi suất huy động đã chậm lại, nhưng mặt bằng lãi suất về cơ bản đang vận động quanh mức mới.
Hai diễn biến này cần được nhìn nhận trong mối quan hệ với nhau. Tín dụng tăng nhanh làm gia tăng nhu cầu nguồn vốn của ngân hàng; trong khi huy động tiền gửi phải cạnh tranh với các kênh đầu tư và phụ thuộc vào khả năng tích lũy của nền kinh tế. Khi tốc độ mở rộng dư nợ cao hơn tốc độ tăng nguồn tiền gửi, ngân hàng có thể phải tăng cường huy động, phát hành giấy tờ có giá hoặc sử dụng thêm các nguồn vốn khác để đáp ứng nhu cầu giải ngân.
Tuy nhiên, cần phân biệt tốc độ tăng tín dụng với tốc độ tăng huy động bằng cách sử dụng cùng thời điểm chốt số liệu và cùng kỳ so sánh. Không thể chỉ lấy mức tăng tín dụng tại ngày 30/9 so với cuối năm để kết luận chính xác mức thiếu hụt vốn của toàn hệ thống, bởi kết quả còn phụ thuộc vào tiền gửi, vốn chủ sở hữu, nguồn vốn liên ngân hàng và các khoản nợ phải trả khác.
Thực tế tại từng ngân hàng cũng cho thấy sự khác biệt về nhu cầu vốn. Theo thông tin Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam công bố ngày 8/10, đến ngày 30/9, huy động vốn của Agribank tăng 8,2% và dư nợ cho vay nền kinh tế tăng 8,8% so với đầu năm. Ngân hàng cho biết sẽ tập trung huy động vốn, cải thiện tiền gửi không kỳ hạn (CASA) và kiểm soát chất lượng tín dụng trong quý IV.
Áp lực huy động cũng thể hiện qua lãi suất niêm yết và các chương trình ưu đãi. Ngày 5/10, ACB điều chỉnh tăng 0,3 điểm phần trăm đối với kỳ hạn 6–9 tháng và tăng 0,2 điểm phần trăm đối với kỳ hạn 12 tháng; lãi suất tiền gửi trực tuyến tương ứng lên tới 7,9% và 8%/năm. Trong khi đó, tại họp báo ngày 7/10, NHNN cho biết một số chương trình ưu đãi có điều kiện đưa lãi suất thực nhận lên trên 9%/năm, còn một số đợt phát hành trái phiếu ngân hàng kỳ hạn 6–10 năm có lãi suất cố định từ 8% đến 10,5%/năm.
Các mức lãi suất trên không đại diện cho toàn bộ hệ thống và cần được phân biệt theo kỳ hạn, số tiền gửi, điều kiện ưu đãi, hình thức trả lãi và thời điểm áp dụng. Dù vậy, chúng cho thấy các ngân hàng đang sử dụng nhiều kênh khác nhau để củng cố nguồn vốn, trong đó chi phí huy động thực tế có thể cao hơn mức lãi suất niêm yết thông thường.
Về phía ngân hàng thương mại, chi phí vốn tăng có thể ảnh hưởng đến biên lãi ròng (NIM), đặc biệt nếu lãi suất đầu vào điều chỉnh nhanh hơn lãi suất cho vay. Tuy nhiên, mức độ tác động còn phụ thuộc vào tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn, cơ cấu kỳ hạn, tỷ lệ vốn giá rẻ, khả năng định giá khoản vay và chất lượng tài sản của từng tổ chức tín dụng. Không thể suy rộng áp lực của một số ngân hàng thành mức suy giảm lợi nhuận chung của toàn ngành khi chưa có đầy đủ báo cáo tài chính.
Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà cho biết áp lực lãi suất trong nước chịu ảnh hưởng từ căng thẳng địa chính trị, giá dầu, nguy cơ gián đoạn chuỗi cung ứng và xu hướng chính sách của các ngân hàng trung ương lớn. Những yếu tố này có thể tác động đến tỷ giá, kỳ vọng lạm phát và chi phí vốn trong nước, nhưng mức độ truyền dẫn còn tùy thuộc diễn biến thực tế của thị trường.
Từ nay đến cuối năm, hiệu quả điều hành sẽ được đánh giá không chỉ qua số tiền NHNN bơm hoặc hút ròng, mà còn qua mức độ ổn định của lãi suất liên ngân hàng, khả năng huy động vốn của các tổ chức tín dụng, diễn biến lãi suất cho vay và chất lượng tăng trưởng tín dụng. Một đợt giảm mạnh của lãi suất qua đêm có thể phản ánh thanh khoản ngắn hạn được cải thiện, nhưng chưa đủ để khẳng định chi phí vốn trung và dài hạn đã giảm.
Về dài hạn, yêu cầu đặt ra là nâng cao khả năng cân đối kỳ hạn, mở rộng nguồn vốn ổn định và phát triển thị trường trái phiếu, cổ phiếu để giảm sự phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng. Đây là điều kiện quan trọng để nhịp bơm – hút tiền phát huy hiệu quả, đồng thời hạn chế những biến động lãi suất không cần thiết trong các giai đoạn cao điểm vốn.
Phượng Hòa