Mặt bằng lãi suất huy động chịu áp lực tăng, trong khi nhu cầu tín dụng phục hồi nhanh đang tạo sức ép lên chi phí vốn, vì thế có xu hướng chảy vào lĩnh vực ít rủi ro, còn doanh nghiệp phải tính toán kỹ kế hoạch đầu tư, mở rộng sản xuất.
Lãi suất đang trở lại thành một trong những biến số đáng chú ý của nền kinh tế những tháng cuối năm 2026. Khoảng cách giữa tốc độ tăng tín dụng và huy động vốn đang đặt ngân hàng trước bài toán cân đối nguồn vốn, đồng thời tạo sức ép nhất định lên lãi suất. Đây cũng là lý do câu chuyện chi phí vốn đang trở thành một trong những điểm nghẽn đáng chú ý đối với doanh nghiệp.
Dòng tiền tăng nhu cầu, lãi suất chịu sức ép
Trong nửa đầu năm, tín dụng toàn hệ thống tăng khoảng 7,5%, trong khi tiền gửi chỉ tăng khoảng 5,5%. Khi tốc độ huy động thấp hơn tốc độ cho vay, các ngân hàng phải tăng cường huy động để đảm bảo nguồn vốn và thanh khoản.
Đến cuối tháng 8/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đã đạt khoảng 20,47 triệu tỷ đồng, tăng 10,11% so với cuối năm 2025. Như vậy, chỉ trong hai tháng kể từ cuối tháng 6, quy mô tín dụng đã tăng thêm khoảng 500.000 tỷ đồng, cho thấy dòng vốn ngân hàng tiếp tục mở rộng nhanh để đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh và đầu tư.
Với mức tăng hiện tại, tín dụng đã đi được hơn hai phần ba chặng đường so với định hướng tăng trưởng khoảng 15% cho cả năm 2026. Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành linh hoạt, không coi mức 15% là một “room” cứng, mà có thể điều chỉnh theo diễn biến kinh tế vĩ mô, lạm phát và yêu cầu bảo đảm an toàn hệ thống.
Doanh nghiệp khó tăng tốc nếu lãi suất vẫn ở mức cao (ảnh: Đào Ngọc Thạch)
Điều đáng chú ý là nhu cầu vốn không chỉ đến từ một khu vực. Tại TP HCM và Đồng Nai, dư nợ cho vay công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,7%; xây dựng tăng 13,8%; du lịch tăng 10,5%; logistics tăng 7,3% so với cuối năm 2025. Đây đều là những lĩnh vực cần vốn lớn để phục vụ mở rộng sản xuất, đầu tư và lưu chuyển hàng hóa.
Ở chiều huy động, áp lực thể hiện rõ hơn trong cuộc đua thu hút tiền gửi. Khảo sát đầu tháng 9 cho thấy lãi suất tiền gửi ngắn hạn tại nhiều ngân hàng đang ở sát mức trần 4,75%/năm; trong khi một số chương trình ưu đãi ở kỳ hạn dài có mức thực nhận cao hơn đáng kể. Thị trường thậm chí ghi nhận một số ngân hàng phát hành chứng chỉ tiền gửi với lãi suất cao, có sản phẩm lên tới 9%/năm. Đây là dấu hiệu cho thấy nhu cầu bổ sung nguồn vốn trung và dài hạn đang khá lớn.
Chi phí huy động tăng, về nguyên tắc, sẽ tạo áp lực lên chi phí đầu vào của ngân hàng. Trong bối cảnh các nhà băng vẫn phải duy trì mặt bằng cho vay đủ cạnh tranh để hỗ trợ nền kinh tế, dư địa giảm thêm lãi suất không còn rộng.
Theo số liệu được công bố, lãi suất cho vay bình quân đối với các khoản vay mới và dư nợ hiện hữu tại nhóm ngân hàng thương mại nhà nước và cổ phần vào khoảng 8,1-10,5%/năm; riêng cho vay ngắn hạn bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên khoảng 3,9%/năm.
Như vậy, không phải toàn bộ nền kinh tế đều đang chịu một mặt bằng lãi suất cao. Các lĩnh vực ưu tiên và doanh nghiệp có sức khỏe tài chính tốt vẫn có khả năng tiếp cận vốn với chi phí thấp hơn. Tuy nhiên, nhóm doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp có tài sản bảo đảm hạn chế hoặc dòng tiền chưa ổn định vẫn phải đối mặt với chi phí vốn cao hơn đáng kể.
Khảo sát được VCCI dẫn lại cho thấy 75,5% doanh nghiệp cho biết không thể tiếp cận khoản vay nếu không có tài sản bảo đảm. Điều này cho thấy bài toán vốn không chỉ nằm ở mức lãi suất, mà còn ở điều kiện tiếp cận tín dụng.
Với doanh nghiệp, một khoản vay 10-12%/năm không đơn thuần là chi phí tài chính. Nếu biên lợi nhuận hoạt động chỉ ở mức vài phần trăm, việc chi phí vốn tăng thêm 1-2 điểm phần trăm có thể làm thay đổi hoàn toàn hiệu quả của một dự án.
Doanh nghiệp cần vốn rẻ hơn, ngân hàng phải giữ cân bằng
Sức ép từ chi phí vốn đang thể hiện rõ nhất ở những ngành phụ thuộc lớn vào tín dụng như bất động sản, xây dựng, sản xuất công nghiệp và hạ tầng. Trên thị trường trái phiếu, chi phí huy động của doanh nghiệp cũng cho thấy sự phân hóa mạnh. Trong khi lãi suất trái phiếu phát hành của nhóm ngân hàng lớn đã giảm về khoảng 7,87-8,2%/năm, trái phiếu của một số doanh nghiệp bất động sản vẫn phải trả mức lãi suất 12,5-13%/năm.
Điều này cho thấy khi tín dụng ngân hàng trở nên đắt đỏ hoặc điều kiện vay khó đáp ứng, doanh nghiệp có thể tìm đến các kênh vốn khác, nhưng chi phí không nhất thiết thấp hơn.
Đối với doanh nghiệp bất động sản, chi phí vốn cao làm tăng áp lực tài chính trong thời gian dự án chưa tạo ra dòng tiền. Với doanh nghiệp sản xuất, lãi suất cao làm giảm động lực đầu tư máy móc, mở rộng công suất và tích trữ nguyên liệu. Với doanh nghiệp xuất khẩu, chi phí vốn tăng còn có thể làm giảm khả năng cạnh tranh khi phải duy trì vốn lưu động lớn trong chu kỳ sản xuất - giao hàng - thu tiền.
VCCI thời gian qua liên tục nhấn mạnh yêu cầu khơi thông nguồn vốn cho doanh nghiệp. Tại các cuộc trao đổi với cộng đồng doanh nghiệp, vấn đề không chỉ là giảm lãi suất mà còn phải mở rộng khả năng tiếp cận vốn đối với doanh nghiệp có dự án và phương án kinh doanh khả thi.
Ở chiều ngược lại, ngân hàng cũng không thể giảm lãi suất bằng mọi giá. Nguồn vốn huy động phải đủ hấp dẫn để giữ tiền gửi, trong khi ngân hàng phải đảm bảo các chỉ tiêu an toàn và quản trị rủi ro tín dụng.
Việc Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh một số quy định theo hướng mở rộng dư địa tín dụng được xem là một giải pháp hỗ trợ. Tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung và dài hạn được nâng lên 40%, đồng thời tiền gửi Kho bạc Nhà nước được tính vào tỷ lệ LDR với tỷ lệ cao hơn. Theo đánh giá từ VCCI, những thay đổi này có thể góp phần tăng khả năng cung ứng vốn cho các dự án trọng điểm.
Song song với đó, Ngân hàng Nhà nước đã triển khai chương trình tín dụng hướng tới các động lực tăng trưởng và doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo chương trình, một số nhóm khách hàng được vay với lãi suất thấp hơn tối thiểu 1 điểm phần trăm/năm so với mức cho vay bình quân cùng kỳ hạn của chính ngân hàng. Đối tượng gồm doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao, kinh tế số, AI, bán dẫn, chế biến chế tạo và các dự án xanh.
Đây là hướng đi quan trọng, bởi trong điều kiện nguồn vốn không thể rẻ đồng loạt, chính sách nên ưu tiên dòng tiền cho những khu vực có khả năng tạo ra giá trị gia tăng, việc làm và năng lực sản xuất mới. Các ngân hàng cũng đang triển khai nhiều gói tín dụng ưu đãi. Một số chương trình giảm 1-1,8 điểm phần trăm so với lãi suất niêm yết, hướng vào nông nghiệp, xuất khẩu, hạ tầng và công nghệ số.
Tuy nhiên, các gói ưu đãi chỉ giải quyết một phần bài toán. Về dài hạn, thị trường cần một cấu trúc vốn cân bằng hơn, trong đó ngân hàng không phải gánh phần lớn nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế.
Lãi suất cao không nhất thiết tạo ra một cú sốc tức thời, nhưng có thể làm dòng vốn chậm lại theo cách âm thầm: doanh nghiệp trì hoãn đầu tư, người mua thận trọng, dự án kéo dài và nhu cầu vốn suy yếu. Vì vậy, mục tiêu không chỉ là kéo lãi suất xuống, mà quan trọng hơn là giữ cho dòng tiền đến đúng nơi có khả năng tạo ra tăng trưởng.
Phượng Hòa