11:20 14/01/2023

OCOP: Tích hợp ‘đa giá trị’ cho sản phẩm địa phương

Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) đã tác động tích cực và đậm nét đến kinh tế nông thôn, góp phần chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ sang sản xuất theo hướng liên kết chuỗi giá trị, khơi dậy tiềm năng đất đai, sản vật, lợi thế so sánh, đặc biệt là các giá trị văn hóa vùng, miền để hình thành các sản phẩm OCOP tích hợp “đa giá trị”.

Để hiểu rõ hơn về những giá trị mà Chương trình OCOP đã mang lại, phóng viên Tạp chí Thương Trường đã có cuộc trao đổi với ông Phương Đình Anh, Phó Chánh văn phòng điều phối nông thôn mới Trung ương.

Tích hợp ‘đa giá trị’ cho sản phẩm địa phương
Ông Phương Đình Anh, Phó Chánh văn phòng điều phối nông thôn mới Trung ương (ảnh Tiến Thanh).

Sau 4 năm triển khai chương trình “mỗi xã 1 sản phẩm” (OCOP), chúng ta đã thu được những kết quả cụ thể thế nào, thưa ông?

Ông Phương Đình Anh: Quyết định số 490/QĐ-TTg ngày 07/5/2018 của Thủ tướng Chính phủ đã khẳng định Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) phù hợp về định hướng, hiệu quả của một chương trình phát triển kinh tế khu vực nông thôn theo hướng phát triển nội sinh và gia tăng giá trị, chú trọng các nguồn lực tại chỗ sẵn có làm động lực phát triển kinh tế (đất đai, tài nguyên, điều kiện địa lý, văn hóa và tri thức bản địa, khả năng sáng tạo và lòng tự hào của người dân...). 

Chương trình OCOP đã được các địa phương và người dân đón nhận, có sự lan toả mạnh mẽ, được triển khai đồng bộ, rộng khắp ở tất cả 63/63 tỉnh, thành phố, huy động sự vào cuộc của các cấp, các ngành từ trung ương đến cơ sở, trở thành một giải pháp được ưu tiên trong phát triển kinh tế nông thôn, gắn với xây dựng nông thôn mới ở tất các các địa phương. 

Cả nước đã có 63/63 tỉnh, thành phố đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP, 
đến ngày 15/12/2022, đã có 8.867 sản phẩm OCOP đạt 3 sao trở lên, trong đó 
65,9% sản phẩm 3 sao, 33,2% sản phẩm 4 sao, 0,7% sản phẩm tiềm năng 5 sao và 20 sản phẩm 5 sao. Đã có hơn 4.586 chủ thể OCOP, trong đó có 38,1% là HTX, 25,6% là doanh nghiệp, 33,5% là cơ sở sản xuất/hộ kinh doanh, còn lại là tổ hợp tác.  Sản phẩm OCOP đang từng bước khẳng định được giá trị và chất lượng trên thị trường, được người dân tín nhiệm.

Từ kết quả thực tiễn cho thấy, Chương trình OCOP đã có những tác động tích cực, đậm nét đến phát triển kinh tế nông thôn, góp phần chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ sang sản xuất theo hướng liên kết chuỗi giá trị, theo tiêu chuẩn, quy chuẩn, có truy xuất nguồn gốc và theo nhu cầu thị trường; khơi dậy tiềm năng đất đai, sản vật, lợi thế so sánh, đặc biệt là các giá trị văn hóa vùng, miền để hình thành các sản phẩm OCOP tích hợp “đa giá trị”, gắn kết giữa phát triển nông nghiệp với dịch vụ, du lịch.

Thời điểm này, chúng ta có thể khẳng định, Chương trình OCOP đã trở thành một giải pháp phát triển kinh tế nông thôn, gắn liền với xây dựng nông thôn mới, được triển khai đồng bộ, rộng khắp, được tất cả các địa phương chủ động triển khai một cách hiệu quả và thành công.

Xin ông cho biết, trong giai đoạn 2023-2025, ngân sách nhà nước sẽ tập trung hỗ trợ những nội dung gì để phát triển chương trình OCOP?

Ông Phương Đình Anh: Việc hỗ trợ phát triển chương trình OCOP là một trong những ưu tiên của ngân sách nhà nước và trong chương trình nông thôn mới, theo Thông tư 53/2022/TT-BTC, Bộ Tài chính đã đưa rất nhiều nội dung để có thể hỗ trợ ngân sách nhà nước cho các chủ thể OCOP phát triển, đặc biệt là các khoản hỗ trợ trực tiếp cho các chủ thể sản xuất sản phẩm OCOP. Cụ thể: Theo thông tư, một số khoản chi được ưu tiên cụ thể như chi hỗ trợ xây dựng đề án, kế hoạch cấp tỉnh, huyện; hỗ trợ tư vấn phát triển sản phẩm, xây dựng hồ sơ sản phẩm bao gồm chi hỗ trợ điều tra, khảo sát, thu thập dữ liệu sản phẩm, thuê chuyên gia tư vấn xây dựng đề án, kế hoạch, xây dựng câu chuyện sản phẩm. 

Chương trình cũng có khoản chi hỗ trợ các doanh nghiệp, Hợp tác xã tăng cường chuyển đổi số trong truyền thông; xây dựng hồ sơ và quản lý dữ liệu sản phẩm OCOP, số hóa sản phẩm và xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc theo chuỗi giá trị sản phẩm OCOP. Chi hỗ trợ tổ chức các hoạt động quảng bá, xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu sản phẩm OCOP và hỗ trợ điểm giới thiệu và bán sản phẩm OCOP trên thực tế (hỗ trợ biển hiệu, quầy kệ, một số trang thiết bị để phục vụ trưng bày và bán sản phẩm OCOP,…). Mức hỗ trợ tối đa không quá 50% tổng kinh phí xây dựng điểm giới thiệu và bán sản phẩm OCOP theo cấp có thẩm quyền phê duyệt; Tất cả các khoản chi trên đều được quy định cụ thể theo quy định của pháp luật.

Với sản phẩm OCOP, sở hữu trí tuệ là một trong những công cụ để thực hiện các hoạt động như tổ chức sản xuất, chế biến và thương mại, tổ chức quảng bá, xây dựng và bảo vệ thương hiệu đối với sản phẩm, đặc biệt là những sản phẩm gắn với chỉ dẫn nguồn gốc địa lý. Đây có phải là một giải pháp để nâng cao giá trị sản phẩm, thưa ông? 

Ông Phương Đình Anh: Trong bối cảnh toàn cầu hóa, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra sâu, rộng, thị trường được mở cửa, do đó sở hữu trí tuệ là một trong những công cụ để thực hiện các hoạt động tổ chức sản xuất, chế biến và thương mại, tổ chức quảng bá và phát triển thương mại sản phẩm, xây dựng và bảo vệ thương hiệu đối với sản phẩm, đặc biệt là những sản phẩm gắn với chỉ dẫn nguồn gốc địa lý (gắn với tên địa danh cụ thể). Với điều kiện đó, việc khai thác các thương hiệu (chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập thể) là rất quan trọng, giúp các sản phẩm OCOP phát huy, nâng cao được các giá trị của cộng đồng, đặc biệt là về chất lượng, văn hóa và tổ chức cộng đồng. Ngoài ra, nó cũng góp phần thúc đẩy việc bảo hộ các sản phẩm của các doanh nghiệp, hợp tác xã gắn với những thương hiệu của địa phương. 

Để phát huy hiệu quả vấn đề này, Chương trình tiếp tục thực hiện nhiều giải pháp như hỗ trợ hoàn thiện chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận cho sản phẩm đủ điều kiện. Đồng thời, hoàn thiện Bộ tiêu chí đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP gắn với vai trò của sở hữu trí tuệ, đặc biệt là yêu cầu sử dụng các chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận đã được Nhà nước bảo hộ ở các địa phương; Xây dựng và quản lý đồng bộ và hiệu quả thương hiệu OCOP Việt Nam (nhãn hiệu chứng nhận), để nâng cao hình ảnh, giá trị sản phẩm OCOP; Xây dựng tài liệu đào tạo, tập huấn, hướng dẫn các chủ thể OCOP xây dựng, quản lý và khai thác các tài sản trí tuệ của địa phương; đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ, tổ chức đào tạo, tập huấn nhằm nâng cao năng lực về sở hữu trí tuệ, đặc biệt là sử dụng hiệu quả các thương hiệu gắn với sản phẩm OCOP.

Xin ông cho biết trọng tâm ưu tiên của chương trình OCOP giai đoạn 2023-2025 là gì để các sản phẩm OCOP khẳng định giá trị thương hiệu và phát triển bền vững?

Ông Phương Đình Anh: Trên cơ sở kế thừa kết quả và khắc phục những vướng mắc của giai đoạn trước, bước sang giai đoạn 2023-2025, Chương trình sẽ tập trung vào những nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm như: Triển khai các cơ chế, chính sách, giải pháp để nâng cao chất lượng sản phẩm, năng lực tổ chức sản xuất, chế biến và thương mại theo chuỗi giá trị sản phẩm OCOP; ưu tiên phát triển các sản phẩm có lợi thế nhằm phát huy bản sắc vùng miền, khơi dậy tiềm năng, sức sáng tạo và niềm tự hào của người dân, thúc đẩy giá trị của cộng đồng trong phát triển sản phẩm OCOP gắn với xây dựng nông thôn mới, đặc biệt là phát triển mô hình du lịch cộng đồng ở nông thôn; hoàn thiện sản phẩm theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, bao bì, nhãn mác gắn với truy xuất nguồn gốc, thương hiệu địa phương và nhãn hiệu hàng hóa; tăng cường chuyển đổi số và xúc tiến thương mại sản phẩm để đẩy mạnh thương hiệu OCOP Việt Nam trên thị trường trong nước và hướng đến thị trường xuất khẩu.

Trên cơ sở đó, Chương trình OCOP giai đoạn tới sẽ tập trung vào những mục tiêu cụ thể như sau: Phấn đấu có ít nhất 10.000 sản phẩm OCOP được công nhận đạt từ 3 sao trở lên, trong đó ít nhất có khoảng 400-500 sản phẩm OCOP đạt 5 sao; Tập trung ưu tiên hỗ trợ các hợp tác xã, DN (phấn đấu ít nhất có 40% chủ thể OCOP là hợp tác xã và 30% chủ thể là các doanh nghiệp); Phát triển sản phẩm OCOP theo chuỗi giá trị theo hướng kinh tế tuần hoàn, OCOP xanh (có ít nhất 30% các chủ thể OCOP xây dựng được chuỗi giá trị theo hướng kinh tế tuần hoàn, OCOP xanh gắn với vùng nguyên liệu ổn định, trong đó ưu tiên các sản phẩm OCOP đã được đánh giá và phân hạng); Phát triển mạnh các sản phẩm đặc trưng, làng nghề, gắn với vai trò phụ nữ, đồng bào dân tộc thiểu số (ít nhất 50% làng nghề truyền thống có sản phẩm OCOP và ít nhất 40% chủ thể OCOP là nữ điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh); Đẩy mạnh xúc tiến thương mại và đa dạng hóa các hình thức bán hàng, hình thành các kênh tiêu thụ sản phẩm OCOP đặc trưng gắn với thương hiệu trên thị trường trong nước và hướng đến xuất khẩu (có ít nhất 50% chủ thể OCOP tham gia vào các kênh bán hành hiện đại (hệ thống siêu thị, cửa hàng tiện lợi; sàn giao dịch thương mại điện tử;…); Phấn đấu mỗi tỉnh, thành phố có 01 điểm giới thiệu và bán sản phẩm OCOP; diễn đàn hợp tác quốc tế mỗi làng xã một sản phẩm được tổ chức ít nhất 01 lần/năm).

Tuy nhiên, điều quan trọng nhất vẫn là câu chuyện thay đổi tư duy, Chương trình OCOP đã và tiếp tục khơi dậy tinh thần sáng tạo, học hỏi của các chủ thể OCOP, cụ thể như: tư duy về phát triển kinh tế để tiếp cận với thị trường, chú trọng yếu tố về chất lượng; tiêu chuẩn/quy chuẩn, sở hữu trí tuệ, an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật; phát triển sản phẩm về mẫu mã, bao bì gắn với sự tiện lợi, theo yêu cầu thị trường;… từng bước hình thành sản phẩm OCOP gắn với mục tiêu phát triển đa giá trị: kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường…

Trân trọng cảm ơn ông!
 

Tiến Thanh - Quốc Hưng