Biến đổi khí hậu khiến chúng ta dễ bị tổn thương, trong khi các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam tham gia đều có cam kết về phát triển xanh, bền vững. Vì vậy, việc tập trung ưu tiên phát triển kinh tế xanh, hướng ‘xanh hóa’ các hàng hóa xuất khẩu chủ lực là yêu cầu bắt buộc đối với Việt Nam.
Tăng trưởng xanh, phát triển xanh, kinh tế tuần hoàn đang trở thành xu hướng trên toàn cầu như một giải pháp tích cực nhằm giảm phát thải nhà kính, nâng cao năng lực chống chịu và tính sáng tạo của nền kinh tế, hướng tới mục tiêu trung hòa carbon và phát triển bền vững. Xu hướng phát triển này đã và đang hình thành nên "luật chơi" mới về thương mại và đầu tư.
‘Xanh hóa’ con đường xuất khẩu nông sản
Tôi rất ấn tượng với những chia sẻ gần đây của ông Bartosz Cieleszynski, Phó trưởng Ban Thương mại, Phái đoàn Liên minh Châu Âu tại Việt Nam, đó là “nền kinh tế định hướng xuất khẩu như Việt Nam, công nghệ xanh và thương mại bền vững nên bắt đầu từ các ngành chủ lực xuất khẩu như nông - lâm - ngư - nghiệp”.
'Xanh hóa' đang trở thành xu thế chung của thế giới, và đó cũng là con đường được ngành nông nghiệp lựa chọn để các mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam khẳng định vị thế trên thị trường toàn cầu
Chúng ta đã nắm chắc con đường đi, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đã, đang tham gia hàng loạt các FTA, trong đó có các FTA thế hệ mới như EVFTA và CPTPP. Những đòi hỏi của các thị trường FTA này thực sự là cao nhưng nó bảo đảm cho con đường “xanh hóa” không chỉ vì lợi ích của các nhà sản xuất mà cho chính môi trường và tương lai của mỗi quốc gia.
Thế nhưng câu hỏi được nhiều người đặt ra là chúng ta nên bắt đầu từ đâu? Sẽ không khó để trả lời câu hỏi này nếu như ngành nông nghiệp Việt Nam quan tâm nhiều hơn tới canh tác hữu cơ, tới “hợp tác và liên kết”.
Trong một câu nói đầy tính nhắc nhở của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Minh Hoan khi bàn về phát triển bền vững cho ngành nông nghiệp, ông cho rằng: “đừng để đời cha ăn mặn đời con khát nước”. Vị bộ trưởng đã nhắc đến quyển sách nổi tiếng thế giới trong ngành nông nghiệp có tựa đề The Blue Economy (“Nền kinh tế xanh lam”) của GS.TS Gunter Pauli, với ngụ ý nếu biết cách dựa trên cái cũ mà biết sáng tạo thì sẽ tìm ra được cái mới. Tư duy nền kinh tế xanh lam, cái mà chúng ta hay dùng từ dư địa, là cách nước ngoài đang khai thác làm ra sản phẩm giá trị với chi phí thấp. Chuyển từ chiều rộng sang chiều sâu.
Theo Bộ trưởng Lê Minh Hoan, để một nền nông nghiệp phát triển, chúng ta cần phải cùng nhau định nghĩa, định vị lại, phải quan tâm tới “hợp tác và liên kết”. Chính vì thế, với chiến lược “xanh hoá” cho XK nông sản, trước câu hỏi bắt đầu từ đâu, không có gì khác hơn là bắt đầu từ sự kiên trì làm thay đổi tư duy và hành vi của công thức hoạch định chính sách phát triển “nông nghiệp xanh” của nhà nông, của hợp tác xã, của nhà doanh nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị ngành hàng nông sản Việt ở mỗi vùng nông nghiệp sinh thái.
Ở đó, việc “xanh hoá” ngành chủ lực XK như nông sản đòi hỏi phải ứng dụng công nghệ cao trong toàn bộ ngành nông nghiệp, chứ không chỉ ở những khu nông nghiệp công nghệ cao, từ cung ứng nguồn lực đầu vào đến canh tác, nuôi trồng, khai thác, thu mua, chế biến, bảo quản, phân phối nông sản đến tay người tiêu dùng. Đồng thời, chúng ta cũng cần khôi phục và phát triển bền vững nền nông nghiệp hữu cơ đối với một số loại nông sản, ở một số vùng nông nghiệp sinh thái có lợi thế so sánh cao.
Đó chính là giải pháp hữu hiệu để “xanh hoá” chiến lược XK nông sản, vừa bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường sinh thái, đồng thời nâng cao hiệu quả kinh tế, gia tăng thu nhập của người lao động nông nghiệp.
Ngoài ra, chúng ta cũng cần hết sức lưu ý đối với các thị trường FTA mà Việt Nam tham gia, nhất là với EVFTA (Việt Nam - EU). Điều kiện cần là chúng ta đặc biệt phải tuân thủ các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm và tính bền vững trong chuỗi cung ứng. Trong bối cảnh ngày càng gia tăng số lượng cảnh báo kiểm tra về thuốc trừ sâu và dư lượng phân bón cũng như các biện pháp kiểm soát tại biên giới EU - đặc biệt là đối với thanh long, rau thơm, đậu bắp, ớt, mì và các sản phẩm thuỷ hải sản.
Theo các chuyên gia nông nghiệp, cơ quan chức năng cần làm việc chặt chẽ với nông dân, hội nông dân và các bên liên quan để xác định những hạn chế trong chuỗi sản xuất. Đồng thời tập trung khuyến khích canh tác hữu cơ vì tất cả lợi ích mà sản phẩm hữu cơ mang đến cho môi trường, nước, đất, hệ sinh vi sinh, động vật, thu nhập của nông dân, tạo việc làm, phát triển nông thôn…
Với tầm nhìn quan trọng ngày càng tăng của canh tác hữu cơ tại EU, các nhà XK nông sản từ Việt Nam nên cân nhắc chú trọng hơn vào việc quảng bá khái niệm canh tác hữu cơ nhằm đáp ứng tốt hơn sở thích của người tiêu dùng châu Âu cũng như tạo đà mở rộng con đường xuất khẩu nông sản ra nhiều khu vực trên thế giới.
‘Xanh hóa’ ngành dệt may, nhiều thách thức
“Xanh hóa” ngành dệt may là xu thế toàn cầu mà doanh nghiệp bắt buộc phải triển khai để đạt mục tiêu phát triển bền vững và gia tăng xuất khẩu vào các thị trường lớn mà Việt Nam đã ký Hiệp định thương mại tự do.
Ngành dệt may đang trong lộ trình 'xanh hóa' để đáp ứng các tiêu chuẩn chung của thị thế giới về phát triển sản xuất, tiêu dùng bền vững
Thời gian qua, ngành dệt may Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội cũng như thách thức khi phải đáp ứng được quy định khắt khe của khách hàng trong việc "xanh hóa" sản xuất, bao gồm một số cam kết như thực hiện trách nhiệm xã hội, môi trường và cắt giảm phát thải,...
Theo Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex), Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu-Việt Nam (EVFTA) có một chương về "Sản xuất và tiêu dùng bền vững", đã cụ thể hóa một số nội dung như EC đề xuất áp dụng một số quy định sinh thái mới đối với hàng dệt may tiêu thụ tại thị trường này. Những sản phẩm có vòng đời ngắn, gây ra nhiều chất thải sẽ không có cơ hội vào thị trường EU.
Trong bối cảnh đó, việc “Xanh hóa” dệt may là yêu cầu bắt buộc để tồn tại cũng như gia tăng giá trị xuất khẩu, và cũng được Vinatex xác định là một trong ba trụ cột “kinh tế-an sinh-môi trường”. Vì thế, Tập đoàn này đã triển khai nhiều chương trình đầu tư mới theo định hướng xanh.
Đối với doanh nghiệp dệt may, lượng điện sử dụng rất lớn. Để khắc phục vấn đề này, trong 5 năm qua Vinatex đã đầu tư gần như 100% các nhà máy sợi, nhà máy may mới đều có trang bị điện mặt trời áp mái.
Với các nhà máy cũ, trên 30% nhà máy còn đủ điều kiện an toàn, các nhà máy ở miền Trung và miền Nam cũng đã triển khai. Trong khi các dự án đầu tư mới, năng lượng tái tạo đã nằm trong danh mục suất đầu tư cơ bản của một công trình.
Với lĩnh vực sợi, tỷ lệ các nhà máy có kéo sợi từ xơ PE tái chế, từ bông tự nhiên trồng theo phương pháp organic từ chỗ không có ở Việt Nam 5 năm trước, nay đã có trên 10% doanh nghiệp sợi có khả năng cung cấp ổn định, có khách hàng dài hạn các mặt hàng này.
Lĩnh vực vải dệt kim cũng đã có các doanh nghiệp sản xuất vải dệt kim từ sợi tái chế, tuy tỷ trọng còn nhỏ, dưới 5% sản lượng.
Hiện nay Vinatex có các sản phẩm tái chế trong hệ thống với tỷ lệ ngày càng cao. Đặc biệt, Tập đoàn này cũng đã tiến hành một bước đánh giá và xây dựng lộ trình cụ thể cho từng doanh nghiệp thành viên hướng tới các mục tiêu 2025, 2030.
Dù vậy, lộ trình ‘xanh hóa’ đối với ngành dệt may vẫn còn chặng đường dài và nhiều thách thức, đặc biệt là đối với nguồn nguyên liệu chính. Với nguồn tự nhiên như tơ tằm, đay gai, bông,… đều chủ yếu phục vụ làm hàng thời trang quy mô nhỏ, kể cả xơ polyester cũng đều ở mức rất nhỏ bé. Ngoài ra, việc sử dụng nguyên liệu tái chế (xơ polyester tái chế) từ các nhà máy ở Việt Nam chưa nhiều và chưa được quan tâm. Cả hai loại nguyên liệu xơ polyester và xơ tái chế đều chưa được quan tâm đầu tư và con người chưa thật sự làm chủ được công nghệ là những thách thức trong mục tiêu "xanh hóa" dệt may ở Việt Nam.
Vì vậy, muốn phát triển bền vững ngành dệt may theo hướng "xanh hóa", đòi hỏi các doanh nghiệp phải đẩy mạnh đầu tư, đổi mới trang thiết bị hiện đại, đồng thời tự chủ được nguồn cung nguyên phụ liệu, đa dạng hóa thị trường,... Bên cạnh đó, Nhà nước cần có cơ chế hỗ trợ đặc thù, chính sách cụ thể về quỹ đất, khuyến khích phát triển công nghiệp hỗ trợ, quỹ tài chính về môi trường,... để các doanh nghiệp theo hướng xanh có thể tiếp cận đầu tư đổi mới, cải thiện chất lượng và giá thành nhằm nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Thái Đạt