14:55 05/11/2026

Tăng tốc về đích, tạo đà cho năm 2027

Chính phủ đặt quyết tâm hoàn thành cao nhất các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, đồng thời hướng tới tăng trưởng từ 10% trở lên trong năm 2027. Tuy nhiên, áp lực lạm phát, giải ngân đầu tư công và sức khỏe doanh nghiệp đang đặt ra yêu cầu điều hành quyết liệt hơn.

Tăng trưởng cao nhưng áp lực vẫn hiện hữu

Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 10/2026 ngày 4/11, Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh quyết tâm kiên định mục tiêu tăng trưởng hai con số, gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Hai tháng cuối năm được xác định là giai đoạn nước rút, có ý nghĩa quyết định đối với khả năng hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu đã đề ra.

Nhìn vào bức tranh kinh tế 10 tháng, nhiều động lực tăng trưởng đang phát huy hiệu quả. Theo Cục Thống kê, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt khoảng 6.618,9 nghìn tỷ đồng, tăng 13,5%. Đặc biệt, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa lần đầu tiên vượt mốc 1.000 tỷ USD, đạt 1.010,55 tỷ USD.

Thu hút đầu tư nước ngoài tiếp tục là điểm sáng. Tính đến ngày 31/10, tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đạt 54,85 tỷ USD, tăng 74% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn đăng ký mới đạt 30,73 tỷ USD, gấp 2,2 lần; vốn đăng ký điều chỉnh đạt 16,13 tỷ USD, tăng 33,2%. Vốn FDI thực hiện theo báo cáo tại phiên họp Chính phủ đạt 24,08 tỷ USD, tăng trên 13%.

Những con số này cho thấy hoạt động sản xuất, thương mại và thu hút đầu tư đang tạo nền tảng quan trọng cho tăng trưởng. Tuy nhiên, tăng trưởng về quy mô chưa đồng nghĩa với việc mọi động lực của nền kinh tế đều đã phục hồi đồng đều.

Tăng tốc về đích tạo đà cho năm 2027
Ảnh minh họa - Nguồn Internet

Một trong những vấn đề đáng chú ý là sức mua thực tế. Mặc dù tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,5%, nhưng nếu loại trừ yếu tố giá, mức tăng chỉ còn 7,7%. Cục Thống kê đánh giá sức mua thực của nền kinh tế chưa cải thiện mạnh. Điều này cho thấy mức tăng doanh thu bán lẻ vẫn chịu ảnh hưởng đáng kể từ yếu tố giá, trong khi khả năng mở rộng tiêu dùng thực chất còn cần được củng cố.

Cán cân thương mại cũng là vấn đề cần theo dõi. Theo số liệu sơ bộ của Cục Thống kê, tháng 10 ghi nhận xuất siêu 7,31 tỷ USD, nhưng tính chung 10 tháng, cán cân thương mại hàng hóa vẫn nhập siêu 12,07 tỷ USD. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 37,83 tỷ USD, còn khu vực FDI xuất siêu 25,76 tỷ USD.

Sự chênh lệch này phản ánh vai trò lớn của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong hoạt động xuất khẩu, đồng thời cho thấy khu vực doanh nghiệp trong nước vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguồn hàng nhập khẩu. Đây là vấn đề cần được quan tâm nếu mục tiêu tăng trưởng không chỉ dừng ở tốc độ mà còn hướng tới nâng cao năng lực tự chủ và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Áp lực rõ nét hơn nằm ở mặt bằng giá cả. CPI tháng 10 tăng 0,20% so với tháng trước và tăng 5,09% so với cùng kỳ. Bình quân 10 tháng, CPI tăng 4,57%, cao hơn mức mục tiêu khoảng 4,5% đặt ra tại Nghị quyết số 01/2026/NQ-CP. Cục Thống kê cũng cho biết đây là mức tăng cao nhất của cùng kỳ trong giai đoạn 2021-2026.

Trong khi đó, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công theo số liệu Cục Thống kê mới đạt 69% kế hoạch năm, tương đương 783,9 nghìn tỷ đồng. Như vậy, khoảng 31% kế hoạch vốn vẫn cần được thực hiện trong hai tháng cuối năm. Áp lực giải ngân không chỉ nằm ở tiến độ mà còn ở khả năng bảo đảm chất lượng, hiệu quả sử dụng vốn và đưa công trình vào khai thác thực tế.

Một tín hiệu khác cần lưu ý là tình hình doanh nghiệp. Trong 10 tháng, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động giảm 12,5%; số doanh nghiệp gia nhập thị trường giảm 4,8%, trong khi số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể tăng 109,8% so với cùng kỳ năm trước.

Khơi thông nguồn lực, tất cả chuẩn bị cho mục tiêu 2027

Trước những kết quả và thách thức đan xen, Chính phủ xác định các nhiệm vụ trọng tâm trong hai tháng cuối năm là kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tiêu dùng, đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và duy trì ổn định thị trường tiền tệ.

Trong đó, chính sách tiền tệ tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tại phiên họp ngày 4/11, Thủ tướng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước điều hành chủ động, linh hoạt lãi suất và tỷ giá, đồng thời nghiên cứu các công cụ điều hành để ổn định và giảm mặt bằng lãi suất cho vay đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu và doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Đáng chú ý, yêu cầu giảm lãi suất được đặt song song với nhiệm vụ bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng. Các tổ chức tín dụng phải tiếp tục tiết giảm chi phí hoạt động, nâng cao hiệu quả kinh doanh và tăng cường kiểm tra, giám sát chất lượng tín dụng. Điều này cho thấy định hướng điều hành không đơn thuần là mở rộng cung tiền hay thúc đẩy tín dụng bằng mọi giá, mà cần bảo đảm dòng vốn được phân bổ đúng địa chỉ, hỗ trợ hoạt động tạo ra giá trị cho nền kinh tế.

Trước đó, ngày 18/10, Ngân hàng Nhà nước đã yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm tối thiểu 0,5 điểm phần trăm/năm lãi suất tiền gửi niêm yết đối với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, đồng thời triển khai giải pháp giảm 1,5-2 điểm phần trăm/năm lãi suất cho vay đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên.

Đây là bài toán không đơn giản, khi nhu cầu vốn của nền kinh tế tăng lên, ngân hàng phải đồng thời bảo đảm thanh khoản, kiểm soát chi phí huy động và duy trì các tỷ lệ an toàn. Vì vậy, để mặt bằng lãi suất cho vay giảm bền vững, ngoài chỉ đạo điều hành, các ngân hàng cần có dư địa từ việc tiết giảm chi phí, cải thiện hiệu quả hoạt động và kiểm soát rủi ro. Quan trọng hơn, doanh nghiệp cần có khả năng hấp thụ vốn, phương án kinh doanh khả thi và đáp ứng điều kiện tín dụng.

Cùng với vốn tín dụng, đầu tư công được xác định là động lực cần tăng tốc trong giai đoạn nước rút. Thủ tướng yêu cầu rà soát, điều chuyển vốn từ các dự án chậm triển khai sang những dự án có khả năng giải ngân tốt, phấn đấu hoàn thành 100% kế hoạch vốn. Việc lựa chọn dự án cần đặt trọng tâm vào hiệu quả lan tỏa, ưu tiên hạ tầng thiết yếu, các công trình giao thông trọng điểm, đường sắt, cao tốc, cảng hàng không và hạ tầng năng lượng.

Đối với khu vực tư nhân, yêu cầu tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, cải thiện môi trường kinh doanh và đơn giản hóa thủ tục hành chính có ý nghĩa không kém việc hỗ trợ vốn. Bởi trên thực tế, những vướng mắc về đất đai, mặt bằng, quy hoạch, thủ tục đầu tư và các quy định chồng chéo có thể khiến dự án kéo dài, làm tăng chi phí và giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Tại phiên họp, Thủ tướng cũng yêu cầu đẩy nhanh việc hoàn thiện cơ sở dữ liệu, kết nối và tái sử dụng dữ liệu đã có nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính. Đây là một trong những điều kiện quan trọng để giảm chi phí tuân thủ, rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ và cải thiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Những nhiệm vụ này không chỉ phục vụ mục tiêu năm 2026 mà còn gắn trực tiếp với định hướng phát triển năm 2027. Theo báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, mục tiêu tổng quát năm 2027 là phấn đấu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên, kiểm soát CPI khoảng 4,5%, GDP bình quân đầu người đạt 6.100 USD và năng suất lao động xã hội bình quân tăng 8,6%.

Đáng chú ý, năm 2027 được xác định là năm tăng tốc, bứt phá, tạo đà, tạo thế và tạo lực để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được đặt ở vị trí động lực chính của mô hình phát triển mới. Cùng với đó là yêu cầu hoàn thiện thể chế, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, phát triển mạnh mẽ các thành phần kinh tế.

Khoảng cách giữa mục tiêu và kết quả thực tế vẫn là thách thức lớn. Khi CPI bình quân 10 tháng đã vượt mức mục tiêu khoảng 4,5%, giải ngân đầu tư công còn cách kế hoạch một khoảng đáng kể, sức mua thực chưa phục hồi mạnh và khu vực doanh nghiệp vẫn có những dấu hiệu khó khăn, việc theo đuổi tăng trưởng hai con số đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa, tiền tệ và các giải pháp cải cách cơ cấu.

Vì vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là thúc đẩy tăng trưởng trong hai tháng cuối năm, mà còn phải nâng cao chất lượng của từng động lực phát triển. Tín dụng cần đi vào sản xuất, đầu tư công phải tạo ra hạ tầng và năng lực mới, đầu tư tư nhân cần được khơi thông, còn cải cách thể chế phải chuyển thành những thay đổi thực chất đối với môi trường kinh doanh.

Hoàn thành mục tiêu năm 2026 sẽ tạo tiền đề quan trọng, nhưng để đạt tăng trưởng từ 10% trở lên trong năm 2027, nền kinh tế cần nhiều hơn những giải pháp mang tính tình thế. Điều quyết định là khả năng chuyển hóa nguồn lực thành năng suất, năng lực cạnh tranh và giá trị gia tăng, qua đó tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh nhưng vẫn bền vững.

Phượng Hòa