Theo số liệu từ Tổng cục Hải Quan, xuất khẩu gạo trong tháng đầu tiên của năm 2020 giảm rất mạnh 39,3 % về khối lượng và giảm 32,7% về kim ngạch so với tháng 1/2019.
Cụ thể, xuất khẩu gạo trong tháng đầu năm 2020 ước đạt 410.855 tấn, thu về 196,46 triệu USD (giảm 17,8% về khối lượng và 13,8% về kim ngạch so với tháng 12/2019) và cũng giảm 6,1% về lượng nhưng tăng 0,6% về kim ngạch so với tháng đầu năm 2019. Giá xuất khẩu gạo tháng đầu năm 2020 đạt trung bình 478,2 USD/tấn, tăng 4,8% so với tháng 12/2019 và tăng 7,1% so với tháng 1/2019.
Xuất khẩu gạo giảm mạnh trong tháng đầu tiên của năm 2020.
Về thị trường, Philppines tiếp tục đứng đầu về tiêu thụ gạo của Việt Nam trong tháng đầu năm nay. Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu sang quốc gia này sụt giảm rất mạnh 39,3 % về khối lượng và giảm 32,7% về kim ngạch so với tháng 1/2019 đạt 135.233 tấn, thu về 61,38 triệu USD, chiếm 32,9% trong tổng lượng gạo xuất khẩu của cả nước và chiếm 31,2% trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên, giá xuất khẩu gạo sang Philippines tăng 10,9%, đạt trung bình 453,9 USD/tấn.
Tiếp đến là thị trường Iraq, mặc dù tháng 1/2019 không xuất khẩu sang thị trường này, nhưng năm nay đạt mức cao 60.000 tấn, trị giá 31,74 triệu USD, chiếm 14,6% trong tổng lượng gạo xuất khẩu của cả nước và chiếm 16,2% trong tổng kim ngạch. Giá xuất khẩu cũng đạt mức cao 529 USD/tấn.
Đứng thứ ba là thị trường Malaysia tăng mạnh 101% về lượng và tăng 63% về kim ngạch đạt 26.978 tấn, tương đương 12,43 triệu USD, chiếm trên 6% trong tổng lượng và tổng kim ngạch xuất khẩu gạo của cả nước, tuy nhiên giá xuất khẩu giảm 18,9%, đạt 460,9 USD/tấn.
Mặc dù ảnh hưởng từ dịch viêm phổi cấp COVID-19 nhưng xuất khẩu gạo sang Trung Quốc cũng tăng mạnh 121,3% về lượng và tăng 176,8% về kim ngạch đạt 18.359 tấn, tương đương 10,78 triệu USD, giá xuất khẩu tăng 25,1%, đạt 587 USD/tấn.
Các thị trường xuất khẩu đáng chú ý trong tháng đầu năm nay là tuy lượng xuất khẩu không cao nhưng so với cùng kỳ năm 2019 thì tăng rất mạnh như: Nga tăng 646,3% về lượng và tăng 566,9% về kim ngạch, đạt 500 tấn, tương đương 0,25 triệu USD; Pháp tăng 219,4% về lượng và tăng 280,2% về kim ngạch, đạt 313 tấn, tương đương 0,2 triệu USD; Angola tăng 102,6% về lượng và tăng 157% về kim ngạch, đạt 699 tấn, tương đương 0,35 triệu USD.
Một số thị trường xuất khẩu không đạt khả quan như:Hồng Kông, Ukraine, Bờ Biển Ngà, Senegal sụt giảm rất mạnh từ 62 – 84% cả về lượng và kim ngạch so với tháng đầu năm 2019.
(Xuất khẩu gạo trong tháng 1/2020 - TCHQ)
| Thị trường | Tháng 1/2020 | So với tháng 1/2019 | Tỷ trọng trị giá (%) |
| Lượng (tấn) | Trị giá (USD) | Lượng | Trị giá |
| Tổng cộng | 410.855 | 196.457.230 | -6,1 | 0,59 | 100 |
| Philippines | 135.233 | 61.380.805 | -39,3 | -32,7 | 31,24 |
| Iraq | 60.000 | 31.740.000 | | | 16,16 |
| Malaysia | 26.978 | 12.433.697 | 101,19 | 63,2 | 6,33 |
| Trung Quốc | 18.359 | 10.776.461 | 121,3 | 176,8 | 5,49 |
| Ghana | 14.668 | 7.400.638 | -11,51 | -14,3 | 3,77 |
| Mozambique | 12.599 | 6.207.567 | | | 3,16 |
| Singapore | 6.219 | 3.242.067 | -8,97 | -16,1 | 1,65 |
| Bờ Biển Ngà | 5.891 | 2.737.806 | -72,31 | -73 | 1,39 |
| Hồng Kông (TQ) | 4.657 | 2.662.490 | -84,07 | -80,7 | 1,36 |
| U.A.E | 3.597 | 1.926.670 | -40,61 | -41,4 | 0,98 |
| Saudi Arabia | 2.650 | 1.466.044 | | | 0,75 |
| Australia | 1.195 | 762.208 | -14,4 | -19,4 | 0,39 |
| Mỹ | 1.057 | 714.533 | -5,2 | -3,77 | 0,36 |
| Đài Loan (TQ) | 689 | 361.299 | 35,36 | 44,61 | 0,18 |
| Angola | 699 | 354.421 | 102,61 | 157,1 | 0,18 |
| Indonesia | 800 | 336.575 | -44,83 | -49 | 0,17 |
| Nga | 500 | 250.363 | 646,27 | 566,9 | 0,13 |
| Hà Lan | 403 | 211.686 | -25,78 | -22,6 | 0,11 |
| Nam Phi | 424 | 205.481 | 6,27 | -5,57 | 0,1 |
| Pháp | 313 | 195.647 | 219,39 | 280,2 | 0,1 |
| Ba Lan | 234 | 133.314 | 100 | 88,79 | 0,07 |
| Senegal | 92 | 65.320 | -74,16 | -61,6 | 0,03 |
| Bỉ | 120 | 62.568 | | | 0,03 |
| Algeria | 78 | 48.204 | 56 | 51,82 | 0,02 |
| Ukraine | 48 | 31.760 | -78,76 | -77,2 | 0,02 |
| Thổ Nhĩ Kỳ | 50 | 29.292 | -33,33 | -31,4 | 0,01 |
| Tây Ban Nha | 49 | 23.319 | -51 | -48,8 | 0,01 |
Trung Thành (T/H)