Tín dụng tăng nhanh nhưng nguồn vốn huy động hụt hơi, đẩy LDR toàn hệ thống gần 110%. Dù lợi nhuận ngắn hạn khả quan, các ngân hàng vẫn tiềm ẩn rủi ro thanh khoản lớn, cảnh báo thách thức cho chất lượng tăng trưởng dài hạn và nhu cầu vốn trong tương lai.
Nguồn vốn huy động hụt hơi
Báo cáo tài chính quý III năm 2025 của 27 ngân hàng niêm yết phác họa một thực tế đáng lo: thanh khoản căng trên diện rộng. Có tới 21 ngân hàng đẩy tín dụng đi nhanh hơn tốc độ vào tiền gửi, 18 ngân hàng cho vay vượt cả tốc độ tăng của nguồn vốn thị trường 1 gồm tiền gửi và giấy tờ có giá, và 6 ngân hàng đã chạm mức cho vay vượt quá 100% quy mô huy động.
Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy sự lệch nhịp ngày càng rõ giữa hai trụ cột huy động và cho vay trong 9 tháng đầu năm 2025. Tổng tiền gửi toàn hệ thống đạt gần 16,2 triệu tỷ đồng. Khối tổ chức kinh tế có màn hồi phục mạnh mẽ trong tháng 8 và tháng 9 khi tăng thêm 374.000 tỷ đồng sau cú giảm sâu của tháng 7, đưa tổng số dư lên 8,35 triệu tỷ đồng. Tiền gửi dân cư vẫn lập kỷ lục mới 7,83 triệu tỷ đồng dù đà tăng đã dịu lại, tương đương mức tăng 10,9% so với đầu năm.
Tuy vậy, dòng vốn huy động này vẫn bị bỏ lại phía sau trước nhịp tăng mạnh của tín dụng. Dư nợ toàn hệ thống đã tăng 13,86% lên 17,78 triệu tỷ đồng, đẩy khoảng cách giữa huy động và cho vay lên tới 1,6 triệu tỷ đồng. Khoảng trống này kéo hệ số LDR toàn hệ thống lên gần 110% vào cuối quý III, một mốc lịch sử. Chứng khoán BIDV dự báo tỷ lệ này có thể tăng lên 111% khi khoảng cách tăng trưởng giữa tín dụng và tiền gửi được duy trì ở mức khoảng 3 điểm phần trăm.
Nhóm Big 4 dù có ưu thế vốn rẻ cũng không thoát khỏi cơn thiếu hụt thanh khoản đang lan rộng. VietinBank ghi nhận LDR 110% khi tín dụng tăng 15,8% còn huy động chỉ tăng 10,5%. BIDV dù dẫn đầu về quy mô vẫn chứng kiến LDR leo lên 105,3%. Vietcombank cũng vượt ngưỡng an toàn với mức 101,1%.
Nhóm ngân hàng tư nhân thậm chí ghi nhận các con số còn đáng chú ý hơn. VPBank tiếp tục dẫn đầu hệ thống với LDR 150% khi tín dụng tăng tới 29% trong khi huy động chỉ tăng 20,6%. Techcombank đạt mức 127,1%. Nhiều ngân hàng khác như SeABank, OCB, VIB, LPBank và MB đều neo ở vùng LDR cao từ 116% đến gần 130%.
Từ góc độ điều hành, Ngân hàng Nhà nước đã bơm ròng hơn 106.000 tỷ đồng trong tháng 11 thông qua nghiệp vụ mua kỳ hạn để duy trì thanh khoản ổn định phục vụ nhu cầu tín dụng mùa cao điểm cuối năm. Động thái này tiếp diễn trong những ngày đầu tháng 12 khi lãi suất liên ngân hàng bật lên 7% một năm ở kỳ hạn qua đêm, mức cao nhất trong nhiều tháng. Các tín hiệu mới nhất trên thị trường tiền tệ cho thấy thanh khoản VND của hệ thống ngân hàng đang bước vào giai đoạn thiếu hụt thấy rõ.
Tín dụng tăng nhanh nhưng nguồn vốn huy động hụt hơi, đẩy LDR toàn hệ thống gần 110%.
Lợi nhuận trước mắt, rủi ro phía sau
Việc các ngân hàng chấp nhận đẩy hệ số LDR lên cao mang lại hiệu quả rõ rệt về lợi nhuận ngắn hạn, đặc biệt trong bối cảnh biên lãi thuần bị siết chặt. Số liệu quý III năm 2025 cho thấy các ngân hàng có LDR cao như VPBank, Techcombank, OCB… đều ghi nhận lợi nhuận tăng trưởng mạnh, tạo cảm giác an tâm cho nhà đầu tư và cổ đông.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, phía sau con số lợi nhuận hấp dẫn là rủi ro thanh khoản đáng kể. Khi LDR leo quá cao, ngân hàng đối mặt với nguy cơ căng thẳng nếu dòng tiền rút đột ngột, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh lãi suất huy động ngày càng quyết liệt. Việc này không chỉ là thách thức ngắn hạn mà còn tiềm ẩn những hệ lụy sâu xa cho cấu trúc vốn và ổn định tài chính.
Bối cảnh chính sách cũng làm tình hình thêm phức tạp. Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước thí điểm bỏ trần tăng trưởng tín dụng từ năm 2026. Khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động vốn, câu chuyện không chỉ là con số kế toán mà còn phản ánh sự căng mỏng của nền vốn.
GS. TS. Trần Ngọc Thơ từ Đại học Kinh tế TP.HCM nhận định: bề ngoài, tín dụng tăng, LDR nhích lên và GDP tăng trưởng là tín hiệu tích cực. Nhưng nhìn sâu hơn, nguồn vốn nền tảng đang mỏng hơn so với quy mô tín dụng, và vai trò gánh đỡ thanh khoản trung hạn của NHNN qua nghiệp vụ mua bán có kỳ hạn (OMO) ngày càng tăng.
Ông Thơ đặt ra ba câu hỏi then chốt cho nền kinh tế: Chúng ta có sẵn sàng phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng đến mức nào để đổi lấy tăng trưởng danh nghĩa? Cấu trúc phân bổ tín dụng hiện nay thực sự hỗ trợ năng suất dài hạn hay đang lệch sang bất động sản và các tài sản kém sinh lời khác? Việc dựa quá nhiều vào OMO kỳ hạn dài và thị trường liên ngân hàng có nên được xem là “bình thường mới”?
Theo ông, thay vì tranh cãi về tốc độ tăng trưởng tín dụng 15% hay 18%, vấn đề đáng lưu tâm hơn là mỗi đồng tín dụng mới đang tạo ra bao nhiêu sức sản xuất thật cho nền kinh tế và bao nhiêu phần đang âm thầm duy trì các nút thắt cũ.
Nếu hệ thống tận dụng giai đoạn bùng nổ tín dụng để tái cơ cấu, nâng cao năng suất và cải thiện chất lượng tín dụng, đây sẽ là bước chuyển cần thiết. Ngược lại, sức ép thanh khoản hiện tại có thể chỉ là dấu hiệu ban đầu của một thách thức lớn hơn về chất lượng tăng trưởng trong tương lai.
Các chuyên gia cảnh báo áp lực này sẽ không dừng lại trong năm nay mà sẽ kéo dài sang 2026. Theo ước tính, nếu mỗi 2,5 đồng tăng trưởng tín dụng tạo ra 1 đồng GDP, để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 10% năm 2026, nền kinh tế sẽ cần tín dụng tăng khoảng 25%.
Điều đó đồng nghĩa hệ thống phải huy động một lượng vốn khổng lồ, đồng thời quản lý rủi ro thanh khoản và chất lượng tín dụng một cách chặt chẽ hơn bao giờ hết.
Bình Minh