Doanh nghiệp - Doanh nhân

05:32 24/09/2025

Xây dựng chiến lược khai thác thương mại tài sản trí tuệ giúp doanh nghiệp phát triển bền vững

Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình dựa trên tri thức và đổi mới sáng tạo, tài sản trí tuệ (TSTT) ngày càng được nhìn nhận là một trong những nguồn lực cốt lõi của doanh nghiệp. Không chỉ đơn thuần là kết quả của hoạt động nghiên cứu hay sáng tạo, TSTT ngày nay còn là đòn bẩy quan trọng trong chiến lược tăng trưởng, huy động vốn và mở rộng thị trường.

Tài sản trí tuệ – Vốn quý chưa được khai thác đúng mức

Khác với tài sản hữu hình như nhà xưởng, thiết bị hay hàng tồn kho, TSTT thường mang tính vô hình và không dễ định lượng. Thế nhưng, trong nhiều lĩnh vực như công nghệ, giáo dục, nông nghiệp công nghệ cao hay thương mại dịch vụ, đây lại là phần tài sản có giá trị lớn nhất. Theo báo cáo của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), tại các doanh nghiệp công nghệ hàng đầu, tài sản trí tuệ và các tài sản vô hình thường chiếm từ 75% đến 90% tổng giá trị doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin và phần mềm.

Xây dựng chiến lược khai thác thương mại tài sản trí tuệ giúp doanh nghiệp phát triển bền vững
Hội thảo chuyên sâu về định giá tài sản trí tuệ do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) phối hợp với Cơ quan Sở hữu trí tuệ Thái Lan (DIP) tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan ngày 24-26/6/2025.

Tại Việt Nam, nhận thức về vai trò của TSTT đã được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây, đặc biệt sau khi Luật Sở hữu trí tuệ được sửa đổi và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, phần lớn TSTT vẫn nằm yên trên giấy tờ pháp lý, được đăng ký, được cấp văn bằng bảo hộ nhưng chưa được thương mại hóa đúng mức. Nhiều sáng chế, phần mềm, giống cây trồng hoặc bí quyết kỹ thuật vẫn chưa được đưa ra thị trường hoặc chỉ dừng lại ở phạm vi nội bộ doanh nghiệp.

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh: “Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo (KHCN/ĐMST) muốn tồn tại, phát triển bền vững thì phải thu hút được đầu tư cho nghiên cứu, phải thương mại hoá được các kết quả nghiên cứu. SHTT chính là cơ sở để thương mại hoá và thu hút đầu tư. Nó biến kết quả nghiên cứu thành tài sản, mà tài sản thì mới có thể định giá, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, góp vốn. Tức là hình thành thị trường các kết quả nghiên cứu. Chỉ có thị trường mới tạo thành động lực phát triển lâu dài cho KHCN/ĐMST.”

Rào cản đến từ định giá và cơ chế tài chính

Một trong những nguyên nhân khiến TSTT khó được khai thác là vấn đề định giá. Không như tài sản hữu hình có thể định lượng dựa trên chi phí sản xuất hoặc giá thị trường, tài sản trí tuệ đòi hỏi phương pháp định giá chuyên sâu, có thể dựa trên tiềm năng sinh lời, uy tín thương hiệu hoặc mức độ ảnh hưởng tới mô hình kinh doanh. Trong khi đó, Việt Nam hiện vẫn thiếu các chuyên gia và tổ chức định giá TSTT chuyên nghiệp, chưa có cơ sở dữ liệu thị trường phong phú và việc tiếp cận tài chính qua TSTT vẫn còn rất hạn chế.

Ngoài ra, hệ thống quản trị TSTT trong doanh nghiệp còn manh mún, thiếu đồng bộ. Không ít doanh nghiệp chưa phân loại rõ ràng các loại tài sản trí tuệ mình đang nắm giữ, chưa xây dựng chiến lược bảo hộ – khai thác – phòng vệ hợp lý. Việc thiếu hiểu biết về thời hạn bảo hộ, phạm vi quyền sở hữu hoặc rủi ro pháp lý cũng khiến nhiều đơn vị e dè trong quá trình thương mại hóa.

Xây dựng chiến lược khai thác thương mại tài sản trí tuệ giúp doanh nghiệp phát triển bền vững
Tọa đàm ‘Xu hướng thương mại hóa sản phẩm sở hữu trí tuệ’ trong khuôn khổ Lễ trao Giải thưởng VCA khẳng định nỗ lực của Việt Nam trong việc biến sáng tạo thành giá trị thương mại, thúc đẩy phát triển kinh tế số và bền vững.

Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cũng chỉ rõ: “Không có SHTT sẽ không ai muốn làm nghiên cứu. Một nhà khoa học công bố kết quả nghiên cứu, người khác dùng nó để thương mại hoá trước, làm mất động lực nhà nghiên cứu. Doanh nghiệp nhỏ sáng tạo ra công nghệ mới có thể bị công ty lớn sao chép và mang ra chiếm lĩnh thị trường. Không có SHTT sẽ không có luật chơi công bằng.”

Từ cấp phép, nhượng quyền đến góp vốn bằng tài sản trí tuệ

Bất chấp những rào cản nêu trên, xu hướng thương mại hóa tài sản trí tuệ tại Việt Nam đang dần khởi sắc, đặc biệt tại các doanh nghiệp khởi nghiệp và các viện nghiên cứu, trường đại học.

Trong số các hình thức phổ biến nhất hiện nay, cấp phép sử dụng tài sản trí tuệ là lựa chọn được nhiều đơn vị áp dụng. Theo đó, bên sở hữu TSTT cho phép bên thứ ba sử dụng trong phạm vi và thời gian nhất định, để đổi lấy phí cấp phép hoặc chia sẻ doanh thu. Hình thức này phù hợp với phần mềm, sáng chế, bản quyền tác phẩm hoặc thiết kế công nghiệp.

Một mô hình khác là nhượng quyền thương mại, nơi các doanh nghiệp cho phép bên nhận quyền khai thác thương hiệu, mô hình kinh doanh, quy trình sản xuất... theo một khuôn mẫu đã được chuẩn hóa. Đây là hình thức đặc biệt phổ biến trong ngành thực phẩm – đồ uống, giáo dục và bán lẻ, với các ví dụ điển hình như Highland Coffee hay chuỗi nhà hàng Gogi House.

Ngoài ra, tài sản trí tuệ cũng đang được sử dụng như một hình thức góp vốn đầu tư trong các liên doanh hoặc startup. Nhiều công ty công nghệ có thể góp vốn bằng chính phần mềm, sáng chế hoặc mã nguồn mà họ sở hữu, qua đó tham gia vào mô hình kinh doanh mà không cần bỏ vốn bằng tiền mặt. Một số startup còn dùng TSTT làm cơ sở để gọi vốn từ các quỹ đầu tư mạo hiểm.

Xây dựng chiến lược khai thác thương mại tài sản trí tuệ giúp doanh nghiệp phát triển bền vững
Hội thảo “Thương mại hóa sáng chế - Thực trạng và giải pháp” được tổ chức trong khuôn khổ Dự án “Nâng cao năng lực xử lý đơn đăng ký sáng chế và nhãn hiệu của Cục Sở hữu trí tuệ” do Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) tài trợ ngày 06/8/2025 tại Hà Nội. 

Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng: “Nếu phải nói một hành động cốt lõi để tăng tỷ lệ thương mại hoá SHTT từ 0,1% lên 2% trong vòng 5 năm nữa, thì đó là định giá tài sản SHTT.”

Thực tế, việc sử dụng tài sản trí tuệ làm tài sản bảo đảm để vay vốn ngân hàng hiện vẫn là một hướng đi tiềm năng tại Việt Nam, song chưa được triển khai rộng rãi do còn thiếu cơ chế định giá và hành lang pháp lý cụ thể. Dù đã có những định hướng chính sách như trong Chiến lược Sở hữu trí tuệ đến năm 2030, song đến nay, các ngân hàng thương mại vẫn chưa áp dụng phổ biến hình thức tín dụng dựa trên tài sản trí tuệ.

Để quá trình thương mại hóa TSTT tại Việt Nam thực sự cất cánh, cần một hệ sinh thái đồng bộ hơn, từ chính sách pháp lý, cơ sở dữ liệu định giá, nguồn nhân lực chuyên môn, đến nhận thức của doanh nghiệp. Quan trọng hơn cả là tư duy quản trị: thay vì coi TSTT là tài sản pháp lý đơn thuần, cần xem đó là nguồn lực chiến lược, có khả năng sinh lời, đóng góp vào tăng trưởng và tạo sức cạnh tranh dài hạn.

Việc chuyên nghiệp hóa hoạt động thương mại tài sản trí tuệ sẽ không chỉ giúp doanh nghiệp Việt vươn ra thị trường khu vực, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế tri thức quốc gia.

Tiến Thanh