10:48 30/05/2024

Các nhà sản xuất và bán lẻ trước 'mệnh lệnh' phải xanh

Trước cam kết sẽ đưa mức phát thải ròng về "0" vào năm 2050, cùng những đòi hỏi từ các nhà nhập khẩu và người tiêu dùng, các nhà sản xuất, bán lẻ cũng đang nỗ lực để hiện thực hoá cam kết này. Đây cũng chính là con đường để giúp các doanh nghiệp nâng cao vị thế, tăng sức cạnh tranh trên thị trường.

Trước mệnh lệnh các nhà sản xuất và bán lẻ thúc đẩy chuyển đổi xanh

Chuyển đổi xanh đang trở thành “mệnh lệnh”

Thế giới đang trải qua những ngày nóng nhất trong lịch sử, đánh dấu khoảng thời gian 12 tháng đầu tiên có nhiệt độ trung bình cao hơn 1,5 độ C so với thời kỳ tiền công nghiệp.

Khảo sát này của cơ quan biến đổi khí hậu của Liên minh châu Âu (EU) đã cảnh báo sự nóng lên của trái đất và cũng đòi hỏi hành động của các quốc gia đối với khí hậu toàn cầu. Liên minh châu Âu hay Mỹ đã đặt ra các điều kiện mới về hàng hóa nhập khẩu để bảo vệ môi trường.

Trong đó phải kể đến Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (gọi tắt là CBAM) của EU đã có hiệu lực. Cơ chế này quản lý lượng carbon phát thải trong quá trình sản xuất của các mặt hàng nhập khẩu vào EU.

Cơ chế Điều chỉnh Biên giới Carbon - CBAM đã có hiệu lực từ 10/2023. Hàng hóa nhập khẩu vào thị trường châu Âu sẽ phải chịu thêm chi phí, chuyển đổi mô hình sản xuất ít phát thải hơn để có tín chỉ carbon và làm cân bằng giá carbon giữa các sản phẩm nội địa và nhập khẩu.

Năm 2025, châu Âu và Mỹ sẽ kiểm soát đánh giá hàm lượng carbon trong sản phẩm nhập khẩu. Nếu hàm lượng carbon cao hơn quy định thì bắt buộc các nhà xuất khẩu phải nộp thêm thuế hoặc tín chỉ carbon. Vào năm 2027, hàng hóa xuất khẩu vào châu Âu và Mỹ phải đáp ứng các tiêu chuẩn giảm phát thải nhà kính.

Với Việt Nam, chúng ta là một trong 5 quốc gia chịu tác động lớn của biến đổi khí hậu, đồng thời Việt Nam cũng đã có những cam kết rất mạnh mẽ đối với vấn đề khí hậu toàn cầu và đã có những bước đi rất cụ thể.

Tại COP26, Việt Nam đã cùng 147 quốc gia trên thế giới cùng cam kết sẽ đưa mức phát thải ròng về "0" vào năm 2050. Việt Nam không hề cam kết suông. Trong vòng 2 năm qua, Chính phủ cùng các Bộ, ngành, doanh nghiệp… đã hiện thực hóa bằng các tín chỉ carbon, chi trả, mua bán giảm phát thải khí nhà kính ERPA và lớn hơn cả là chuyển đổi từ những nguồn năng lượng hoá thạch sang nguồn năng lượng xanh.

Theo Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đến năm 2050 của Việt Nam đã được Chính phủ ban hành, đến năm 2030, tổng phát thải khí nhà kính quốc gia giảm 43,5%.

Như vậy, 5 lĩnh vực năng lượng, nông nghiệp, lâm nghiệp, chất thải và công nghiệp sẽ phải cắt giảm mạnh lượng phát thải khí carbon trong quá trình sản xuất. Hiện nay, các doanh nghiệp Việt đang chủ động chuyển đổi xanh trong sản xuất để thúc đẩy tiến trình chuyển đổi xanh của cả nền kinh tế.

Tại hội nghị COP28, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, phải biến cam kết từ các hội nghị trước thành những hành động cụ thể, nhanh chóng, quyết liệt.

Đại diện Ngân hàng Standard Chartered Việt Nam cũng nhận định, rằng kế hoạch huy động nguồn lực mà Thủ tướng Việt Nam công bố đã cho thấy được tất cả những khía cạnh cần thiết của chuyển đổi năng lượng công bằng tại Việt Nam.

Trong khi đó, phía Liên minh Năng lượng toàn cầu, vì người dân và hành tinh, cho rằng Việt Nam đang đóng vai trò dẫn dắt khu vực, tạo ra hình mẫu cho cả cộng đồng quốc tế.

Sau những cam kết và hành động của Chính phủ, nhiều thỏa thuận hợp tác đã được các bộ, ngành ký kết với các đối tác phát triển, các định chế tài chính để có thể huy động nguồn lực hỗ trợ, đầu tư và triển khai các giải pháp giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, hướng tới phát triển bền vững, phát thải carbon thấp và tăng trưởng xanh. Việt Nam đang thay đổi, từ những hành động nhỏ nhất của mỗi người dân tới những chính sách lớn hơn của nhà nước vì một tương lai xanh và bền vững hơn.

Mặc dù việc hoàn thành các mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính sẽ không đơn giản nhưng đây sẽ là cơ hội để doanh nghiệp, địa phương, các ngành kinh tế chuyển mình với các chiến lược dài hạn hướng tới phát triển bền vững.

Tiêu dùng xanh quyết định sản xuất xanh

Tiêu dùng xanh đã trở nên phổ biến hơn ở các nước phát triển và có những bước tiến ban đầu ở các nước đang phát triển khi thu nhập cá nhân và ý thức tiêu dùng ngày càng tăng lên.

Các chuyên gia môi trường xem tiêu dùng xanh như một biện pháp “giải cứu Trái đất” trước những biến đổi xấu của môi trường sống trên toàn cầu. Do đó, xu hướng sản xuất và sử dụng sản phẩm thân thiện với môi trường dự báo sẽ tăng trưởng mạnh trong thời gian tới.

Trước mệnh lệnh các nhà sản xuất và bán lẻ thúc đẩy chuyển đổi xanh
Tiêu dùng xanh đang trở nên phổ biến hơn đòi hỏi các nhà bán lẻ phải nỗ lực để thích ứng để bắt kịp xu thế chung.

Hiện nay, người tiêu dùng trên thế giới đang dần hướng tới các sản phẩm xanh, thân thiện với môi trường và coi đó như một tiêu chuẩn cho các sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao. Người tiêu dùng sẵn lòng trả giá cao hơn cho những hàng hóa được gắn nhãn mác đạt tiêu chuẩn sản xuất bền vững.

Theo số liệu khảo sát của Kantar, qua dịch Covid-19, nhu cầu và hành vi của người tiêu dùng cũng có nhiều thay đổi và hướng đến lối sống bền vững, có lợi cho sức khỏe nên họ sẵn sàng ưu tiên chi tiêu cho những mặt hàng thiết yếu, nhanh và an toàn.

Cụ thể, có tới 57% người tiêu dùng, cho rằng sẽ ngừng mua các sản phẩm, dịch vụ ảnh hưởng đến môi trường và xã hội; 23% người tiêu dùng ưu tiên mua các loại thức ăn từ hạt; 20% người tiêu dùng còn lại sẵn sàng chi tiền cho các sản phẩm hữu ích cho sức khỏe và môi trường như sữa tăng sức đề kháng, bàn chải bảo vệ môi trường...

Trước những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, xu hướng chuyển đổi xanh và nhận thức xanh của người tiêu dùng đang tăng nhanh trong thời gian gần đây. Nhiều kết quả khảo sát khác cũng khẳng định, khoảng 80% người tiêu dùng Việt Nam sẵn sàng chi trả nhiều hơn để mua các sản phẩm có nguyên liệu đảm bảo thân thiện với môi trường, có thương hiệu “xanh”. Điều này có nghĩa, khi thu nhập của người dân tăng thì nhu cầu sản phẩm sản xuất từ những nguyên liệu thân thiện với môi trường cũng có xu hướng tăng lên.

Theo khảo sát của Nielsen, có đến 86% người tiêu dùng Việt sẵn sàng chi trả cao hơn cho sản phẩm đến từ thương hiệu có ảnh hưởng tích cực đến xã hội và môi trường (tỷ lệ trung bình của khu vực Đông Nam Á là 76%). Việc doanh nghiệp cam kết có trách nhiệm với môi trường cũng tác động đến quyết định mua hàng của 62% người tiêu dùng Việt.

Các số liệu nêu trên đang cho thấy những thay đổi lớn trong xu hướng tiêu dùng đối với các sản phẩm xanh trên toàn cầu và ngay tại Việt Nam. Trên thực tế, phần lớn các doanh nghiệp đã bắt tay sản xuất các sản phẩm xanh thân thiện với môi trường và thể hiện nỗ lực bảo vệ môi trường. Các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh đang dần thay đổi thói quen sản xuất lạc hậu hoặc kém thân thiện với môi trường để tiến tới các giải pháp sản xuất “xanh”.

Các nhà sản xuất, bán lẻ đang nỗ lực để chuyển đổi xanh

“Sản xuất xanh” là quy trình sản xuất mà từ nguyên liệu đầu vào đến sản phẩm đầu ra đều thân thiện với môi trường và không gây nguy hại cho sức khỏe con người. Sản xuất xanh đang là một mắt xích quan trọng giúp Việt Nam hướng tới một nền kinh tế xanh và bền vững. Xanh hóa sản xuất còn đặt ra cho các doanh nghiệp những đòi hỏi, yêu cầu mới phù hợp với xu thế phát triển chung, đồng thời nâng cao vị thế, tăng sức cạnh tranh ở cả thị trường trong và ngoài nước.

Thực tế, cho thấy nhiều các nhà sản xuất, bản lẻ tại Việt Nam đã và đang chú trọng hơn sử dụng nguồn nguyên vật liệu tự nhiên, nhiên liệu, hóa chất không gây độc hại; đầu tư dây chuyền máy móc, công nghệ, trang thiết bị dây chuyền sản xuất hiện đại theo các tiêu chuẩn quốc tế để cải tiến quy trình, hướng tới sản xuất xanh.

Chẳng hạn trong ngành thời trang, các thương hiệu như: Dệt may Việt Nam, Nike, Adidas, Zara, H&M, Levi’s… đã đồng loạt có những hành động hướng đến sản xuất bền vững, góp phần giảm bớt căng thẳng liên quan đến môi trường và khí hậu.

Trong đó, Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas) đặt ra mục tiêu “xanh hóa” với kế hoạch đến năm 2023, giảm 15% tiêu thụ năng lượng, 20% tiêu thụ nước. Đến năm 2030, chuyển đổi xanh ngành dệt may Việt Nam, đồng thời xây dựng được 30 thương hiệu mang tầm quốc tế; Nike cam kết sử dụng 100% năng lượng tái tạo tại các nhà máy vào năm 2025; Zara cam kết đến năm 2025 chỉ sử dụng bông, vải lanh và polyester hữu cơ hoặc tái chế để làm quần áo, hạn chế sản xuất gây tác hại đến môi trường; H&M hiện có 35% sản phẩm được sản xuất bằng nguyên liệu tái chế và mục tiêu đến năm 2030 sẽ chỉ dùng loại nguyên liệu này… Nhiều doanh nghiệp Việt Nam và Thế giới hướng đến sử dụng 100% năng lượng tái tạo cho toàn bộ hoạt động kinh doanh của mình.

Với ngành gỗ, một trong những ngành hàng xuất khẩu quan trọng của Việt Nam cũng đang nỗ lực chuyển xanh. Sản xuất giảm phát thải khí nhà kính, "xanh hóa" chuỗi cung ứng của ngành gỗ đang là mệnh lệnh của thị trường. Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, ông Đỗ Xuân Lập, cho rằng: "Trong quá trình sản xuất là quá trình tiêu thụ năng lượng về điện, về các loại nguyên liệu hóa thạch và các nguyên liệu khác tạo ra vấn đề khí thải carbon. Do đó, vấn đề hướng đến mục tiêu giảm phát thải là những mục tiêu sản xuất của các doanh nghiệp ngành gỗ".

Các doanh nghiệp ngành gỗ đã trang bị một số máy móc sản xuất gỗ hiện đại, tiết kiệm năng lượng, phù hợp với tiêu chí xanh do đối tác đặt ra. Đơn cử như tại Công ty CP kỹ nghệ gỗ Tiến Đạt đã thay đổi một số máy móc, thay hệ thống sấy nhiệt hơi cho lò sấy cũ, qua đó giảm tới 3/4 lượng điện năng tiêu thụ.

Trước mệnh lệnh các nhà sản xuất và bán lẻ thúc đẩy chuyển đổi xanh
Nhiều nhà máy sản xuất đã đầu tư lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái, sử dụng năng lượng tái tạo trong sản xuất

Với nhà đầu tư nước ngoài, đơn cử như Heineken, để góp phần chống biến đổi khí hậu, tham gia bảo vệ môi trường và duy trì phát triển bền vững, ở mỗi khâu trong quá trình sản xuất, phân phối sản phẩm, doanh nghiệp này đều chủ động thực hiện xanh hóa. Hiện nay, có 5/6 nhà máy sản xuất của Công ty Heineken đã thực hiện nấu bia bằng 100% năng lượng tái tạo. Trong khâu đóng gói, 100% chai bia và két được sử dụng lại, 100% lon bia được tái chế.

Unilever cũng là cái tên đáng chú ý, khi doanh nghiệp này đã có 100% nhà máy, văn phòng, cơ sở nghiên cứu và phát triển, trung tâm dữ liệu, kho hàng và trung tâm phân phối trên toàn cầu đều sử dụng điện lưới tái tạo. Đó cũng là mục tiêu mà Samsung Việt Nam đang hướng đến khi mới đây, Tập đoàn điện tử hàng đầu thế giới này đã đặt vấn đề mua điện từ các nguồn điện tái tạo để sử dụng ở các nhà xưởng của mình.

Với các nhà bán lẻ, trước nhu cầu ngày càng cao về tiêu dùng xanh, các nhà bán lẻ lớn trong nước đã nỗ lực đầu tư nhằm cho ra đời những sản phẩm có yếu tố xanh và sạch, xây dựng thương hiệu xanh gắn với phát triển bền vững.

Theo kết quả nghiên cứu của Nielsen Việt Nam, các thương hiệu có cam kết xanh và sạch đều có mức tăng trưởng khá cao, khoảng 4%/năm. Việt Nam cũng đã hình thành được các chuỗi cửa hàng thực phẩm sạch như Sói Biển, Bác Tôm, Home Food, Hano Farm… nhằm đáp ứng nhu cầu mua sản phẩm sạch, rõ nguồn gốc của người dân.

Nhiều cửa hàng trà sữa, cà phê chuyển sang kinh doanh theo xu hướng xanh bằng cách sử dụng ống hút tre, ống hút giấy hoặc inox thay cho ống hút nhựa; chỉ sử dụng túi giấy thay vì sử dụng túi nylon… Nhiều siêu thị lớn trên cả nước như Co.opmart, Lotte mart thời gian qua cũng có những động thái giảm thiểu việc sử dụng túi nylon, rác thải nhựa bằng cách sử dụng lá chuối gói rau củ, thực phẩm thay túi nylon; sử dụng, phân phối các sản phẩm bao bì thân thiện với môi trường.

Có thể thấy, nỗ lực hành động chuyển đổi xanh đang được nhiều nhà sản xuất, bán lẻ thực thi khá nghiêm túc. Những kết quả bước đầu nêu trên là rất quan trọng, tuy nhiên để đạt được các mục tiêu đề ra còn rất nhiều việc cần phải làm để biến khát vọng về chuyển đổi xanh và phát triển kinh tế nhanh, bền vững trở thành hiện thực.

Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), cho rằng Việt Nam là một trong những quốc gia có vai trò quan trọng, cũng như tích cực trong quá trình chuyển đổi xanh đối với khu vực và toàn cầu khi tham gia vào hầu khắp các chuỗi cung ứng. Vì vậy, chuyển đổi xanh là không thể đảo ngược.

Thành viên Hội đồng Chuyên gia về Quản trị và Khí hậu của WEF, ông Shai Ganu chia sẻ: "Việt Nam có vai trò quan trọng trong tiến trình này. Chúng tôi đánh giá cao cam kết của Việt Nam phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, cùng với các kế hoạch hành động cụ thể quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ozon, thực hiện kiểm kê khí nhà kính… Quan trọng là cần có sự phối hợp công - tư để phát huy hiệu quả của chính sách".

Minh Đức