12:06 05/09/2026

Công nghiệp tăng tốc kéo nhu cầu nguyên liệu lên ra sao?

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 8 tháng tăng 11,9%, kéo nhu cầu thép, hóa chất, nhựa, năng lượng và linh kiện tăng mạnh đồng nghĩa với thị trường nguyên liệu cũng bước vào chu kỳ sôi động hơn.

Nhà máy tăng tốc, “đầu kéo” nguyên liệu cũng nóng lên

Sản xuất công nghiệp Việt Nam đang tăng tốc với tốc độ đáng chú ý với IIP tháng 8/2026 tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 14,4% so với cùng kỳ. Tính chung 8 tháng, IIP tăng 11,9%, mức cao nhất của 8 tháng trong nhiều năm qua. Riêng ngành chế biến, chế tạo tăng 12,5% và đóng góp 9,6 điểm phần trăm vào mức tăng chung.

Đáng chú ý, mức tăng đang tập trung ở nhiều ngành có mức tiêu thụ nguyên liệu lớn. Sản xuất kim loại tăng trên 22%; xe có động cơ tăng gần 16%; thiết bị điện tăng gần 15%; sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng gần 14%. Ở cấp sản phẩm, sản lượng xe máy tăng gần 28%, máy tính xách tay tăng gần 26%, ô tô tăng 24% và thép cán tăng hơn 23%.

Theo đó, khi các ngành sản xuất tăng công suất, nhu cầu đầu vào thường tăng theo. Nhưng điểm đáng chú ý của năm nay là sự gia tăng không chỉ xuất hiện ở nguyên liệu cơ bản mà còn lan sang máy móc, linh kiện và các vật tư phục vụ sản xuất.

Theo Bộ Công Thương, trong 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch nhập khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện cùng với nhóm máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đã chiếm khoảng 51% tổng kim ngạch nhập khẩu. Riêng máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng đạt khoảng gần 35 tỷ USD, tăng gần 23% so với cùng kỳ. Bộ Công Thương đánh giá nhu cầu nhập khẩu linh kiện, máy móc, thiết bị phục vụ đầu tư, lắp đặt và sản xuất trong nước đang tăng rất mạnh.

Công nghiệp tăng tốc kéo nhu cầu nguyên liệu lên ra sao
Công nghiệp tăng tốc kéo nhu cầu nguyên liệu lên cao (ảnh: Đinh Phương)

Đây là dấu hiệu cho thấy đà tăng sản xuất hiện tại đang tạo hiệu ứng lan tỏa ngược về phía đầu vào. Nhà máy cần thêm thép, nhựa, hóa chất, linh kiện điện tử, nguyên phụ liệu, nhiên liệu và thiết bị; từ đó thúc đẩy thị trường nguyên liệu trong nước và hoạt động nhập khẩu.

Với thép, mối liên hệ này thể hiện rất rõ. Trong 8 tháng, sản xuất kim loại tăng hơn 22%, thép cán tăng hơn 23%. Trong khi đó, Hòa Phát – doanh nghiệp sản xuất thép lớn nhất Việt Nam – cho biết 6 tháng đầu năm đã sản xuất gần 7 triệu tấn thép thô, tăng 36% so với cùng kỳ năm 2025; sản lượng bán hàng HRC, thép xây dựng, thép chất lượng cao và phôi thép đạt 6,5 triệu tấn, tăng 32%. Riêng HRC bán ra gần 3,4 triệu tấn, tăng 57%.

Đà tăng của thép có sự hỗ trợ đáng kể từ nhu cầu xây dựng và đầu tư cơ sở hạ tầng. Hòa Phát cho biết thép của tập đoàn đang được sử dụng tại nhiều dự án lớn như sân bay, cao tốc, cầu và các công trình hạ tầng trọng điểm. Doanh nghiệp đồng thời đặt mục tiêu sản lượng gần 15 triệu tấn thép trong năm 2026, tăng khoảng 40% so với năm trước khi Khu liên hợp Dung Quất 2 vận hành ổn định.

Như vậy, một vòng tròn đang hình thành: đầu tư và sản xuất tăng kéo theo nhu cầu thép tăng buộc doanh nghiệp mở rộng sản xuất dẫn tới nhu cầu nguyên liệu đầu vào của chính ngành thép tiếp tục tăng.

Không chỉ thép, các ngành nhựa và hóa chất cũng đang hưởng lợi từ nhịp sản xuất cao hơn. Bộ Công Thương cho biết nhiều nhóm nguyên liệu đầu vào như sắt thép, hóa chất, chất dẻo và sản phẩm từ chất dẻo, nguyên phụ liệu dệt may, da giày đều ghi nhận mức tăng nhập khẩu. Đây là những đầu vào được sử dụng trực tiếp trong sản xuất hàng công nghiệp và hàng xuất khẩu.

Đáng chú ý là nhu cầu năng lượng cũng tăng theo, trong 6 tháng đầu năm, kim ngạch nhập khẩu xăng dầu đạt khoảng gần 5,9 tỷ USD, tăng 73%; dầu thô đạt gần 4,7 tỷ USD, tăng 17%; than đạt khoảng gần 4,7 tỷ USD, tăng 21%. Với xăng dầu, lượng nhập khẩu chỉ tăng khoảng 11%, nhưng trị giá tăng mạnh do giá nhập khẩu chịu tác động từ diễn biến địa chính trị.

Điều này cho thấy đà tăng của sản xuất không chỉ tác động đến lượng nguyên liệu mà còn tác động trực tiếp đến chi phí đầu vào.

Nhu cầu nguyên liệu tăng: Cơ hội lớn nhưng cũng tạo áp lực giá thành

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 8 tháng năm 2026 đạt hơn 770 tỷ USD, tăng gần 29% so với cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu tăng hơn 22%, nhưng nhập khẩu tăng tới hơn 35%, đưa cán cân thương mại hàng hóa vào trạng thái nhập siêu gần 21 tỷ USD.

Một phần nguyên nhân nằm ở việc nhập khẩu tư liệu sản xuất tăng mạnh. Đây là điểm cần nhìn nhận theo hướng tích cực khi nền kinh tế đang mở rộng năng lực sản xuất. Nhập khẩu máy móc, linh kiện và nguyên liệu tăng không nhất thiết phản ánh sự phụ thuộc ngày càng lớn, mà trước hết cho thấy doanh nghiệp đang cần thêm đầu vào để phục vụ đơn hàng, đầu tư và mở rộng công suất. Tuy nhiên, nếu tỷ trọng nguyên liệu nhập khẩu lớn, biến động giá quốc tế sẽ nhanh chóng truyền vào chi phí sản xuất trong nước.

Ngành thép là ví dụ điển hình, khi sản lượng thép tăng nhanh, nhu cầu đối với quặng sắt, than luyện cốc, thép phế và các nguyên liệu khác cũng tăng. Hòa Phát hiện có công suất thép lên tới 16 triệu tấn/năm, trong đó hơn 60% sản lượng là các loại thép chất lượng cao phục vụ cơ khí chế tạo, sản xuất ô tô, đóng tàu, dầu khí, đồ gia dụng và năng lượng.

Điều này cho thấy nhu cầu nguyên liệu không chỉ đến từ xây dựng mà đang ngày càng gắn với các ngành chế tạo có giá trị gia tăng cao. Một tấn thép chất lượng cao có thể trở thành đầu vào cho nhiều sản phẩm khác, từ ô tô, máy móc đến thiết bị năng lượng.

Điện tử cũng tạo ra một “vòng xoáy” tương tự. Sản lượng máy tính xách tay trong nước 8 tháng tăng 25,7%, trong khi tổng kim ngạch nhập khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng mạnh. Đây là dấu hiệu cho thấy các nhà máy trong nước đang cần lượng lớn linh kiện và vật tư để đáp ứng đơn hàng xuất khẩu.

Ở góc độ doanh nghiệp, VinFast cũng cho thấy sức hút của thị trường linh kiện và vật liệu khi nhu cầu ô tô điện tăng nhanh. Hãng cho biết trong 6 tháng đầu năm đã bàn giao gần 116.000 ô tô điện tại Việt Nam, tăng 72% so với cùng kỳ năm trước.

Tăng trưởng của ô tô điện kéo theo nhu cầu không chỉ đối với thép và nhôm mà còn với pin, linh kiện điện, vật liệu kỹ thuật, chip, hệ thống điện và nhiều loại phụ trợ khác. Vì vậy, khi một ngành công nghiệp tăng tốc, tác động đối với thị trường nguyên liệu có thể lớn hơn nhiều lần so với con số sản lượng của chính ngành đó.

Tuy nhiên, cơ hội này đang đặt doanh nghiệp trong nước trước một bài toán về nội địa hóa nguyên liệu đến đâu. Bộ Công Thương cho rằng cần tăng cường kết nối doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước nhằm nâng tỷ lệ nội địa hóa và thay thế dần nguyên liệu nhập khẩu; đồng thời khuyến khích ưu tiên sử dụng sản phẩm mà trong nước đã sản xuất được trong hoạt động đầu tư, xây dựng và đấu thầu.

Đây sẽ là một trong những yếu tố quyết định việc thị trường nguyên liệu trong nước có thực sự hưởng lợi từ chu kỳ tăng trưởng công nghiệp hay không. Nếu sản xuất tăng nhưng phần lớn nguyên liệu, linh kiện vẫn phải nhập khẩu, giá trị gia tăng giữ lại trong nước sẽ hạn chế. Ngược lại, nếu các doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, nhu cầu nguyên liệu tăng sẽ tạo thêm thị trường cho cả khai khoáng, hóa chất, nhựa, kim loại, cơ khí chính xác, bao bì và logistics.

Trong khi dòng vốn đầu tư cũng đang tạo thêm động lực, tính đến hết 8 tháng năm 2026, vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đạt gần 41 tỷ USD, tăng hơn 55% so với cùng kỳ. Đây là yếu tố có thể tiếp tục thúc đẩy nhu cầu máy móc, thiết bị, nguyên liệu và dịch vụ hỗ trợ sản xuất trong thời gian tới.

Nhưng với thị trường hàng hóa, tăng cầu đầu vào luôn đi kèm rủi ro về giá. Giá nhiên liệu, kim loại và hóa chất quốc tế có thể biến động; chi phí vận tải và logistics cũng ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành. Trong trường hợp doanh nghiệp không thể chuyển toàn bộ chi phí tăng thêm sang giá bán, biên lợi nhuận sẽ bị thu hẹp.

Vì vậy, diễn biến của thị trường nguyên liệu từ nay đến cuối năm sẽ không chỉ quyết định chi phí sản xuất mà còn ảnh hưởng tới giá hàng hóa cuối cùng. Nếu nguồn cung nội địa theo kịp nhu cầu, áp lực tăng giá có thể được kiểm soát. Ngược lại, nếu năng lực cung ứng trong nước hạn chế, nhu cầu nhập khẩu tăng nhanh có thể khiến giá nguyên liệu nhạy cảm hơn với biến động quốc tế.

Nhìn từ nhà máy đến thị trường, điều đáng chú ý nhất hiện nay không phải chỉ là IIP tăng bao nhiêu phần trăm, mà là một chu kỳ nhu cầu mới đang hình thành ở phía sau con số đó. Khi ô tô, điện tử, thép, thiết bị điện và chế biến chế tạo cùng tăng trưởng, thị trường nguyên liệu cũng đang được kéo lên theo.

Đây là cơ hội lớn để thị trường nguyên liệu trong nước mở rộng, nhưng cũng đặt ra áp lực kiểm soát giá thành và giảm phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài. Trong chu kỳ công nghiệp mới, doanh nghiệp nào làm chủ được nguyên liệu, nâng tỷ lệ nội địa hóa và kiểm soát tốt chi phí đầu vào sẽ có lợi thế lớn hơn trong cuộc đua giành thị trường hàng hóa.

Phượng Hòa