Mạng lưới các hiệp định thương mại tự do đang giúp hàng hóa Việt Nam tiếp cận ngày càng nhiều thị trường với mức thuế ưu đãi, nhưng cánh cửa mở rộng không đồng nghĩa doanh nghiệp tự động có thêm giá trị.
Trong bối cảnh yêu cầu về xuất xứ, môi trường, lao động và tính minh bạch ngày càng cao, năng lực kiểm soát chuỗi cung ứng đang trở thành yếu tố quyết định khả năng tận dụng lợi thế từ FTA.
Lợi thế thuế quan chưa đủ để mở rộng thị phần
Việt Nam hiện có gần 20 FTA với nhiều đối tác thương mại lớn và các khu vực có tốc độ tăng trưởng cao. Từ EVFTA với Liên minh châu Âu đến các hiệp định với Nhật Bản, Anh, Canada và nhiều thị trường khác, mạng lưới cam kết thương mại đã tạo thêm dư địa để doanh nghiệp mở rộng xuất khẩu, đa dạng hóa thị trường và cải thiện khả năng cạnh tranh về giá.
Tuy nhiên, lợi thế từ thuế quan chỉ phát huy khi hàng hóa thực sự đáp ứng được các điều kiện đi kèm. Một sản phẩm có thể được hưởng mức thuế ưu đãi trên giấy, nhưng nếu doanh nghiệp không đáp ứng quy tắc xuất xứ hoặc không hoàn thiện được hồ sơ chứng minh, lợi ích từ FTA vẫn khó chuyển thành kết quả kinh doanh.
Doanh nghiệp Việt Nam cần nâng năng lực quản trị chuỗi cung ứng để khai thác hiệu quả hơn các ưu đãi từ các FTA. (Ảnh minh hoạ/TL)
Ông Ngô Chung Khanh - Phó Vụ trưởng Vụ Phát triển Thị trường nước ngoài và Thương mại đa biên, Bộ Công Thương, cho rằng vấn đề hiện nay không còn nằm ở số lượng FTA mà ở khả năng tận dụng hiệu quả những cơ hội mà các hiệp định mang lại.
Theo ông Khanh, nhiều thị trường Việt Nam đã có cam kết thương mại nhưng tỷ lệ hàng hóa Việt Nam hiện diện vẫn chưa tương xứng với quy mô nhập khẩu. EU là một trường hợp đáng chú ý khi đây là thị trường có sức mua lớn và Việt Nam được hưởng lợi từ EVFTA, nhưng thị phần hàng Việt vẫn còn khoảng cách so với tiềm năng.
Tương tự, Canada, Mexico hay Vương quốc Anh đều đang mở ra những không gian mới cho hàng hóa Việt Nam. Điều này cho thấy dư địa thị trường vẫn còn, nhưng khả năng khai thác phụ thuộc ngày càng nhiều vào nội lực của doanh nghiệp.
Một trong những hạn chế được chỉ ra là doanh nghiệp chưa phải lúc nào cũng bắt đầu từ yêu cầu của thị trường. Thay vì xác định trước tiêu chuẩn, nhu cầu và điều kiện nhập khẩu rồi tổ chức sản xuất tương ứng, một bộ phận doanh nghiệp vẫn theo cách làm sản xuất trước, tìm đầu ra sau.
Trong khi đó, luật chơi thương mại quốc tế đang thay đổi nhanh. Nếu trước đây thuế suất, thủ tục hải quan và giấy chứng nhận xuất xứ là những vấn đề được quan tâm hàng đầu, thì hiện nay khách hàng và cơ quan quản lý tại các thị trường lớn còn yêu cầu doanh nghiệp chứng minh nguồn gốc nguyên liệu, quy trình sản xuất, điều kiện lao động, trách nhiệm môi trường và mức độ minh bạch của chuỗi cung ứng.
Các FTA thế hệ mới vì thế không chỉ tạo ra ưu đãi thương mại mà còn kéo theo những chuẩn mực cao hơn về phát triển bền vững, lao động, môi trường, thương mại điện tử và khả năng bảo đảm chuỗi cung ứng.
Điều này làm thay đổi cách doanh nghiệp tiếp cận hoạt động xuất khẩu. Không còn đơn thuần là sản xuất một sản phẩm rồi đưa ra thị trường, doanh nghiệp phải kiểm soát nhiều mắt xích phía sau để có thể chứng minh sản phẩm được tạo ra như thế nào và giá trị nào thực sự được hình thành tại Việt Nam.
Nói cách khác, FTA đang mở cửa thị trường nhưng chính năng lực đáp ứng mới quyết định doanh nghiệp có bước qua được cánh cửa đó hay không.
Giữ lại nhiều giá trị hơn trong mỗi đơn hàng xuất khẩu
Nếu cơ hội thị trường đã rộng hơn, bài toán tiếp theo là làm thế nào để phần giá trị doanh nghiệp Việt Nam giữ lại trong chuỗi cung ứng cũng tăng lên.
TS. Bùi Bá Nghiêm - Chuyên viên cao cấp, Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương, cho rằng quy mô xuất khẩu chưa phản ánh đầy đủ lượng giá trị mà doanh nghiệp trong nước tạo ra. Một ngành hàng có thể đạt kim ngạch lớn, nhưng nếu phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu, linh kiện, công nghệ hoặc dịch vụ từ bên ngoài thì phần giá trị thực giữ lại trong nước vẫn có thể hạn chế.
Đây là vấn đề đặc biệt đáng chú ý với những ngành xuất khẩu sử dụng nhiều đầu vào nhập khẩu như dệt may, da giày, điện tử và cơ khí.
Khi chuỗi cung ứng bị gián đoạn, mức độ phụ thuộc cũng bộc lộ rõ hơn. (Ảnh minh hoạ/TL)
Doanh nghiệp không chỉ cần biết nhà cung cấp trực tiếp của mình là ai mà còn phải nắm được nguồn nguyên liệu đến từ đâu, phụ thuộc vào thị trường nào và có phương án thay thế hay không nếu xảy ra biến động.
Theo ông Bùi Bá Nghiêm, việc này cần sự phối hợp rộng hơn giữa cơ quan quản lý, địa phương, hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp logistics và các doanh nghiệp xuất khẩu. Một hệ sinh thái liên kết tốt hơn sẽ giúp thông tin về hàng hóa, thị trường, vận tải và những điểm nghẽn trong chuỗi được cập nhật và xử lý nhanh hơn.
Dữ liệu trở thành một trong những điều kiện quan trọng để nâng khả năng phản ứng. Theo ông Nghiêm, nếu thông tin đến cơ quan xử lý quá chậm, khi giải pháp được đưa ra thì vấn đề doanh nghiệp gặp phải có thể đã thay đổi. Vì vậy, việc xây dựng nền tảng dữ liệu phục vụ điều phối xuất nhập khẩu và logistics có ý nghĩa ngày càng lớn.
Cùng với dữ liệu, tổ chức lại chuỗi cung ứng theo hướng liên kết vùng cũng là một hướng quan trọng. Sản xuất cần được gắn với logistics, cảng biển, trung tâm phân phối và các cửa ngõ xuất khẩu thay vì phát triển rời rạc.
Từ góc độ thị trường, yêu cầu này càng trở nên rõ khi các đối tác nhập khẩu quan tâm sâu hơn tới khả năng truy xuất và minh bạch chuỗi cung ứng. Một sản phẩm hoàn thiện tại Việt Nam chưa đủ để khẳng định doanh nghiệp đã làm chủ giá trị của sản phẩm đó.
Nếu nguyên liệu chính vẫn phụ thuộc từ bên ngoài hoặc doanh nghiệp không chứng minh được nguồn gốc và tỷ lệ đóng góp trong nước, lợi thế từ các FTA có thể bị hạn chế. Ngược lại, khi doanh nghiệp kiểm soát được nhiều hơn về nguyên liệu, công nghệ, sản xuất và dữ liệu, khả năng đáp ứng quy tắc xuất xứ cũng được cải thiện, qua đó mở rộng cơ hội hưởng ưu đãi thương mại.
Với TP. Hồ Chí Minh, vai trò trung tâm xuất nhập khẩu lớn không chỉ nằm ở việc hỗ trợ riêng doanh nghiệp trên địa bàn. Thành phố còn có dư địa phát huy vai trò kết nối sản xuất, logistics và thị trường cho cả khu vực, từ đó giúp giảm chi phí và nâng hiệu quả chuỗi cung ứng.
Trong bối cảnh thương mại quốc tế chuyển dần từ cạnh tranh bằng giá sang cạnh tranh bằng khả năng đáp ứng tiêu chuẩn và độ tin cậy, lợi thế của doanh nghiệp Việt Nam sẽ không chỉ được đo bằng số lượng FTA mà Việt Nam đã ký kết. Quan trọng hơn là doanh nghiệp có thể biến các cam kết ấy thành đơn hàng, giữ lại bao nhiêu giá trị trong nước và kiểm soát được bao nhiêu mắt xích trong quá trình tạo ra sản phẩm.
Nhật Hạ