Giá lợn chạm đáy, giá thức ăn chăn nuôi leo thang, sức tiêu thụ chậm khiến nhiều chủ trại lợn trở nên khánh kiệt. Nhiều người đã phải “treo chuồng” vì bi kịch “càng nuôi càng lỗ”.
Phá sản vì giá lợn
Chưa khi nào người chăn nuôi lợn lại rơi vào cảnh lao đao như hiện nay. Từ những người chăn nuôi nhỏ lẻ cho đến những hợp tác xã có quy mô lớn đều trong tình trạng “giữ không được, bỏ không xong”.
Nguyên nhân được người chăn nuôi giải thích là do giá bán thịt hơi ở mức thấp trong khi giá thức ăn chăn nuôi liên tục tăng cao.
Huyện Văn Giang (Hưng Yên) lâu nay được ví là “vựa thịt lợn” của cả nước, nhưng ở đây bà con cũng đang rơi vào cảnh “ngậm đắng nuốt cay”, chịu lỗ để giữ đàn lợn.
Với giá lợn hơi và giá thức ăn như hiện nay, nếu người nông dân bán 1 con lợn 100kg sẽ bị lỗ từ 1 đến 2 triệu đồng.
Ông Nguyễn Công Minh (xã Cửu Cao, Văn Giang, Hưng Yên) người có rất nhiều kinh nghiệm nuôi lợn, trải qua nhiều thăng trầm của nghề nhưng chưa khi nào tình trạng chăn nuôi lại khốn đốn như hiện nay.
Ông Minh chia sẻ, cách đây 3-4 năm khi dịch lở mồm long móng rồi dịch tả lợn châu Phi ập đến cũng không căng thẳng như hiện nay. Khi ấy, gia đình ông phải giảm ½ đàn nhưng hiện nay ông phải giảm 80% số lợn trong chuồng.
“Gần đây giá thức ăn chăn nuôi tăng hơn 15 lần liên tiếp, trong khi giá lợn lại giảm sâu chỉ còn 47.000-49.000 đồng/kg. Theo tính toán, gia đình tôi cứ xuất chuồng 1 con lợn là lỗ khoảng 1 triệu đồng/con. Trước đây xã tôi có đến gần 1000 trại lợn, nhưng giờ các trại lợn chỉ còn đếm trên đầu ngón tay” – Ông Minh cho hay.
Do giá lợn hơi xuống thấp, giá thức ăn lên quá cao, gia đình ông Minh và rất nhiều hộ dân chăn nuôi phải “đắp chiếu” nhiều chuồng. Bà Lê Thị Thu (xã Cửu Cao, Hưng Yên), chủ trại nuôi 500 đầu lợn thịt giải thích: “Như giá cả hiện nay thì thực sự không thể vực dậy dược. Ngân hàng không dám cho vay, đại lý, công ty giờ người ta cũng sợ không cho mình mua nợ nữa. Người dân giờ cũng không còn đủ lực để duy trì nữa rồi”.
Các trang trại lợn quy mô cũng không nằm ngoài những khó khăn về giá cả. Ông Lê Văn Hùng, Giám đốc Hợp tác xã Chiến Thắng (xã Xuân Quang, huyện Văn Giang) chia sẻ, trước đây quy mô cũng khá lớn, có tới 7.000 – 8.000 con lợn thịt, gần 600 con lợn nái.
Từ khi giá thức ăn chăn nuôi tăng đột biến, số đàn lợn đã giảm đi gần 70%. Nguyên nhân là các hội viên đều vay vốn từ ngân hàng, thế chấp sổ đỏ để đầu tư nên nhiều hộ thực sự rơi vào khủng hoảng.
“Mỗi con lợn nuôi đạt 100kg sẽ tốn khoảng 4,2 -4,5 triệu đồng tiền cám, tiền giống khoảng 1,5 triệu đồng và tiền điện nước, thuốc thú ý…Như vậy mỗi con lợn phải gánh lỗ khoảng 600 -1 triệu đồng. Với cả nghìn con lợn, chúng tôi lỗ hàng tỷ đồng. Trang trại giờ chỉ lay lắt cầm cự. Một số hội viên đã chán nản, rút dần. Nếu không vì kế sinh nhai gắn bó mấy chục năm, tôi cũng bỏ lâu rồi” - ông Hùng nói ngậm ngùi.
Cùng chung hoàn cảnh, ông Đinh Hải (Hồng Quang, huyện Ứng Hòa, TP Hà Nội) người có gần 30 năm kinh nghiệm chăn nuôi lợn, đã từng trải qua nhiều lần lên xuống giá nhưng cũng không thể cáng đáng được đợt khó khăn này.
Mặc dù dự đoán được thị trường sẽ khó khăn, ông đã tính toán giảm đàn xuống còn 10 con lợn nái và 150 con lợn thịt. Tuy nhiên với số vốn ít ỏi ông Hải vẫn không thể trụ vững được.
Ông Hải phải vay mượn người thân tiền để mua thức ăn duy trì đàn lợn.
“Với múc giá này, người chăn nuôi chúng tôi sẽ chịu thua lỗ nặng. Đơn giản cứ tính giá lợn giống khoảng 1.000.000 đồng đến 1.300.000 đồng một con, tiền thức ăn khoảng 4.000.000 đồng cộng thêm tiền thuốc men điều trị, tiêm phòng, tiền điện nước.... Nên với mức giá khoảng 50.000 đồng/kg, người chăn nuôi sẽ lỗ khoảng 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng một con lợn hơi xuất chuồng. Đó là chưa kể tiền công chăm sóc” - ông Hải cho biết.
Đối với những hộ nuôi nhỏ lẻ, dù tận dụng được nhân công dôi dư, tự làm tự chăn nuôi, chủ động tìm kiếm nguồn thức ăn thay thế cám công nghiệp bằng các thức ăn như, khoai lang, đậu tương, ngô, cá khô, các loại vitamin..., tiết kiệm được giá thành so với mua cám của công ty nhưng cũng không thể có lãi.
“Mặc dù tận dụng thức ăn trong gia đình nhưng những hộ nuôi nhỏ lẻ sẽ phải đối diện với việc thời gian xuất chuồng kéo dài, vật nuôi dễ mắc các bệnh dịch, rất dễ bị giảm đầu con nên họ cũng gặp rất nhiều rủi ro. Nói chung cứ với giá lợn hơi thế này, giá cám leo thang thì chỉ khổ những người nông dân thôi” – Ông Hải than thở.
Mỏi mòn chờ giải cứu
Giải thích việc thức ăn chăn nuôi tăng giá mạnh từ đầu năm 2022, nhiều doanh nghiệp cho rằng, do giá nguyên liệu nhập khẩu đầu vào để sản xuất liên tục tăng, nguồn nhập khẩu bị hạn chế, nếu không tăng giá sản phẩm bán ra, doanh nghiệp sẽ bị thua lỗ.
Thực tế, thức ăn chăn nuôi trong nước hiện nay lại đang phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu từ nước ngoài 80 - 90%, trong đó có những nguồn không thể thay thế được trong nước như lúa mì, đậu tương và thậm chí là ngô.
Đã nhiều doanh nghiệp từng liên kết với các vùng trồng ngô ở Sơn La, Đắk Lắk… để hỗ trợ thu mua ngô nguyên liệu, tuy nhiên chất lượng ngô sản xuất trong nước lại không đạt tiêu chuẩn. Trong đó quan trọng nhất là kết quả kiểm định còn tồn dư một số độc tố trong quá trình sản xuất.
Chính vì vậy việc dùng nguyên liệu trong nước để thay thế vẫn còn nhiều mặt hạn chế. Do nguyên liệu trong nước không đảm bảo, khiến việc sản xuất phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu. Từ đó, mức giá dễ chịu tác động từ giá nhập nước ngoài, chi phí vận chuyển và điều kiện vận chuyển, dịch bệnh hay thời tiết...
Thực tế, thức ăn chăn nuôi trong nước hiện nay lại đang phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu từ nước ngoài 80 - 90%.
Chi phí sản xuất tăng cao, đầu ra hạ giá đồng thời sức tiêu thụ chậm. Thịt sản xuất trong nước khó bán, lại càng thêm khó khi phải cạnh tranh với lượng thịt nhập khẩu về nhiều theo các hiệp định thương mại tự do (FTA) với lợi thế về giá. Khó lại càng thêm khó, khi trong quý I/2023, mức tiêu thụ thịt vẫn duy trì ở mức thấp so với cùng kỳ các năm trước.
Để tháo gỡ những khó khăn của ngành chăn nuôi trong giai đoạn hiện nay, theo Hội Chăn nuôi Việt Nam, các địa phương vẫn cần tiếp tục triển khai thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch bệnh trong chăn nuôi, tránh tình trạng chủ quan, lơ là để dịch bệnh tái phát, lây lan trên diện rộng.
Mặt khác, cần có chính sách về lãi suất tiền vay, chính sách về đất đai cho người chăn nuôi an toàn sinh học theo chu kỳ sản xuất. Trong đó, thực hiện cho vay ưu đãi, giãn nợ, xóa nợ, tạm thời chưa thu nợ (như nợ trả lãi và nợ gốc cho ngân hàng, nợ tiền sử dụng đất, tiền nộp thuế thu nhập doanh nghiệp…). Đồng thời, miễn giảm các khoản người chăn nuôi cần chi trả như chi phí điện, nước, phí môi trường, phí kiểm dịch…
Cùng với đó, cần sớm có quy định về việc thu mua, giết mổ, chế biến và dự trữ thịt gà, thịt lợn khi ứ đọng, chậm tiêu thụ do cung vượt cầu, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh… nhằm giảm bớt thiệt hại cho người chăn nuôi. Ngoài ra cần phải điều tiết thị trường, góp phần bảo vệ người tiêu dùng, chủ động điều hành sản xuất trong nước và lộ trình nhập khẩu thịt hàng năm.
Về lâu dài, cần hỗ trợ khuyến khích đầu tư phát triển chăn nuôi lợn theo chuỗi giá trị gắn với truy xuất nguồn gốc sản phẩm; xây dựng các tổ hợp chăn nuôi quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao với vai trò của doanh nghiệp làm trọng tâm trong liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Đồng thời, tiến hành kiểm tra, rà soát, đánh giá thực trạng hệ thống kênh phân phối, cơ sở giết mổ và đầu mối bán buôn, bán lẻ đối với mặt hàng thịt lợn tính từ lợn xuất chuồng đến người tiêu dùng, bảo đảm lợi ích của người chăn nuôi, người cung ứng và người tiêu dùng.
Quang Anh