Việt Nam đang đứng trước giai đoạn bản lề (2023-2025) cho chiến lược phát triển thoát “bẫy thu nhập trung bình”. Năm 2023 được xem là năm khó dự báo với nhiều ẩn số đến từ nội tại trong nước và các yếu tố kinh tế chính trị đến từ thị trường quốc tế. Để hạn đảm bảo kiềm chế lạm phát, ổn định vĩ mô, đồng thời phát triển kinh tế trong năm 2023, các chuyên gia đã đưa ra giải pháp có thể áp dụng.
Nhiều thách thức với kinh tế Việt Nam 2023
Trong bối cảnh kinh tế thế giới suy thoái cục bộ, lạm phát và tỷ giá còn diễn biến khó lường; song các chương trình phục hồi kinh tế được thực hiện đúng tiến độ, đúng đối tượng, dự báo kinh tế Việt Nam tiếp tục đà phục hồi tích cực, lạm phát và tỷ giá có sự tăng nhẹ nhưng ở trong tầm kiểm soát. Cụ thể, trong năm 2023, tăng trưởng GDP dự kiến sẽ đạt 6%-6,5%; tỷ lệ lạm phát ở mức 4%-4,5%; tỷ giá tăng 3%-4% trong cả 2 năm 2022 và 2023.
Tuy nhiên, bên cạnh những tín hiệu tích cực, nền kinh tế nước ta cũng đối mặt với nhiều thách thức. Việt Nam đang đứng trước giai đoạn bản lề (2023-2025) cho chiến lược phát triển thoát “bẫy thu nhập trung bình”. Năm 2023 được xem là năm khó dự báo với nhiều ẩn số đến từ nội tại trong nước và các yếu tố kinh tế chính trị đến từ thị trường quốc tế.
Dự báo của FED về sự kiểm soát lạm phát của Mỹ là yếu tố tác động lớn đến ổn định của thị trường ngoại hối Việt Nam, dự trữ ngoại hối và tỷ giá USD/VND được neo giữ ở biên độ phù hợp là chỉ số dẫn trước tích cực cho lĩnh vực sản xuất và dịch vụ.
Việc Trung Quốc mở cửa trở lại là cơ hội của nền kinh tế Việt Nam không chỉ trong lĩnh vực sản xuất mà còn đẩy mạnh nguồn thu từ phát triển dịch vụ. Tuy nhiên, năm 2023 dự báo tốc độ tăng trưởng ngành dịch vụ rất khó tăng như năm 2022 vì tăng năng suất luôn thấp hơn sản xuất hàng hoá. Đây là điều tra về kế hoạch mua hàng hoá để sản xuất năm 2023. Du lịch tăng so với năm trước 40% do năm 2021 đang bị ảnh hưởng do đại dịch Covid. Chỉ số PMI dưới 50 nghĩa là khả năng sản xuất suy thoái hoặc đi xuống trong năm 2023.
Tình hình kinh tế ảm đạm ở trên thế giới cho thấy rõ, xuất khẩu đang xuống và tổng vốn FDI cũng thế. Điều này nói lên rằng, tăng trưởng năm 2023 không dễ dàng khi kinh tế Trung Quốc đang gặp khó khăn lớn, Mỹ cũng không khá và EU dự báo còn tệ hơn.
Chỉ số PMI có xu hướng đi xuống dưới mức 50, đặc biệt là tháng 11-12/2022 và thậm chí tháng 1/2023 (tháng tết). Điều này cho thấy lĩnh vực sản xuất của Việt Nam đang trên đà suy thoái, đơn hàng giảm, sản xuất giảm, việc làm giảm và đặc biệt là niềm tin giảm. Sự giảm sút sức mua, giảm các đơn hàng từ các thị trường xuất khẩu chủ chốt của Việt Nam bao gồm Trung Quốc, EU và Mỹ.
PMI sản xuất của Việt nam, điều chỉnh theo mùa, >=50 cải thiện so với tháng trước đó. Tổng hợp từ S&P Global.
Bên cạnh đó chính sách tiền tệ thắt chặt, lãi suất ngân hàng tăng cao trong nửa cuối năm 2022 là những nguyên nhân chính cho sự suy giảm trong lĩnh vực sản xuất. Những bất ổn của thị trường trái phiếu và đóng băng của thị trường bất động sản kéo dài cũng là dấu hiệu cho thấy áp lực suy thoái sẽ tiếp tục gia tăng cho nửa đầu năm 2023 cho đến khi xuất hiện các cú hích đến từ chính sách nới lỏng tiền tệ và sự hồi phục của các đơn hàng đến từ thị trường xuất khẩu truyền thống của Việt Nam.
Bên cạnh đó, không thể không kể đến lĩnh vực đầu tư công được trông chờ là công cụ tài khóa thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế. Tuy nhiên, nếu nhìn vào tỷ lệ giải ngân đầu tư công thì không có nhiều sự lạc quan cho việc nới lỏng chính sách tài khóa.
Nguồn: Bộ tài chính
Theo TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV và Nhóm chuyên gia Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV, có thể nhận diện những rủi ro, thách thức chính đối với kinh tế Việt Nam trong năm 2023 như sau:
Một là, môi trường quốc tế có xu hướng xấu đi, rủi ro, thách thức từ bên ngoài vẫn hiện hữu và có những tác động tiêu cực rõ nét hơn. Nhất là nguy cơ suy thoái kinh tế toàn cầu, Trung Quốc còn nhiều khó khăn và thị trường tài chính, tiền tệ tiềm ẩn rủi ro đã và đang tác động tiêu cực đến nền kinh tế Việt Nam, nhất là xuất khẩu, đầu tư, tiêu dùng và du lịch quốc tế,. Thực tế, một số động lực cho tăng trưởng (xuất khẩu, sản xuất công nghiệp…) mặc dù vẫn tăng, song có dấu hiệu chậm lại khi các điều kiện kinh doanh xấu đi và nhu cầu thế giới suy giảm mạnh, đơn hàng sụt giảm, trong khi chi phí đầu vào vẫn ở mức cao và thiếu hụt nguồn cung nguyên vật liệu.
Hai là, giải ngân đầu tư công, các chương trình mục tiêu quốc gia và Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội các năm 2022-2023 đang chậm tiến độ so với kế hoạch. Nguyên nhân chính gây khó khăn cho hoạt động giải ngân vốn đầu tư công và Chương trình phục hồi còn chậm.
Ba là, áp lực lạm phát còn tăng, lãi suất ở mức cao và áp lực tỷ giá biến động vẫn là thách thức lớn trong năm 2023. So với nhiều nước, lạm phát, tỷ giá và lãi suất của Việt Nam tăng chậm hơn, vẫn trong tầm kiểm soát, song cần theo dõi chặt chẽ hơn.
Bốn là, một số thị trường then chốt, như: tiền tệ, chứng khoán và trái phiếu doanh nghiệp, thị trường bất động sản và lao động... đang bộc lộ rủi ro, thanh khoản eo hẹp hơn; vốn cho doanh nghiệp khó tiếp cận hơn, đang là thách thức đặt ra. Chính phủ, các cơ quan quản lý đã nhận diện và quyết tâm chấn chỉnh, khắc phục và lành mạnh hóa; được kỳ vọng tốt lên trong thời gian tới.
Năm là, nợ xấu tiềm ẩn vẫn là thách thức. Theo NHNN, hiện tỷ lệ nợ xấu hệ thống ngân hàng vẫn trong tầm kiểm soát. Tuy nhiên, trong bối cảnh tác động của thời kỳ hậu đại dịch Covid-19, kinh tế thế giới đang xấu đi, mặt bằng lãi suất cho vay và tỷ giá chịu nhiều áp lực tăng, nghĩa vụ trả nợ tăng (gồm cả trái phiếu doanh nghiệp đáo hạn), khiến doanh nghiệp ở một số lĩnh vực gặp khó khăn.
Giải pháp nào để vượt qua thách thức?
Theo TS. Cấn Văn Lực, để hạn chế tác động tiêu cực, tạo điều kiện đảm bảo kiềm chế lạm phát, đảm bảo ổn định vĩ mô, đồng thời tiếp tục hỗ trợ phục hồi, phát triển kinh tế trong năm 2023, cần triển khai các giải pháp đồng bộ như sau:
Thứ nhất, tiếp tục bám sát tình hình kinh tế, tài chính quốc tế; chủ động phân tích, dự báo diễn biến thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế để có kịch bản chủ động ứng phó phù hợp; triển khai các giải pháp kịp thời, hiệu quả.
Thứ hai, phối hợp hài hòa các chính sách kinh tế vĩ mô, cân bằng giữa kiểm soát lạm phát và tăng trưởng; giữa lãi suất và tỷ giá; giữa cân đối ngân sách và hỗ trợ người dân, doanh nghiệp; giữa đầu tư công, FDI và đầu tư tư nhân trong bối cảnh đầu tư tư nhân tăng khá thấp so với 2 kênh dẫn vốn còn lại.
GDP tăng trưởng 8,02% trong năm 2022, cao hơn mục tiêu 6,5%, và là mức tăng cao nhất trong giai đoạn 2011-2022 cho thấy, sự phục hồi mạnh mẽ của kinh tế Việt Nam.
Thứ ba, đẩy nhanh triển khai Chương trình phục hồi và các chương trình mục tiêu quốc gia (nhất là các cấu phần còn bị chậm) và giải ngân đầu tư công tạo động lực tăng trưởng; quyết liệt cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, giảm thiểu thủ tục hành chính nhằm tận dụng cơ hội dịch chuyển chuỗi cung ứng, kiến tạo thúc đẩy đầu tư trong và ngoài nước, tăng năng suất và giảm chi phí sản xuất, kinh doanh.
Thứ tư, nâng cao hơn nữa hiệu quả điều hành chính sách kinh tế với các trọng tâm: (i) Tăng cường kiểm soát rủi ro vĩ mô (đặc biệt là các thị trường: trái phiếu doanh nghiệp, chứng khoán, bất động sản và các mặt hàng: xăng dầu, thuốc men…); (ii) Tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ theo hướng chặt chẽ, chủ động, linh hoạt, đồng bộ các công cụ nhằm bình ổn tỷ giá, lãi suất, điều hành tín dụng ở mức phù hợp; (iii) Tập trung phát huy vai trò chủ lực của chính sách tài khóa và giải ngân vốn đầu tư công trong năm 2023, nhằm tiếp tục hỗ trợ người dân, doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng trong bối cảnh dư địa chính sách tiền tệ hẹp dần và thu thuế sẽ khó khăn hơn.
Thứ năm, thực hiện các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp chịu tác động tiêu cực từ suy giảm xuất khẩu và biến động mạnh lãi suất, tỷ giá, như: tiếp tục chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, thúc đẩy xuất khẩu, đa dạng hóa các thị trường xuất khẩu; điều hành chính sách tiền tệ (tỷ giá, lãi suất) cơ bản ổn định, có khả năng dự báo; tiếp tục đẩy mạnh cải thiện thực chất môi trường đầu tư, kinh doanh, thể chế theo các cam kết hội nhập…
Thứ sáu, đẩy nhanh hoàn thiện thể chế, cải thiện mạnh mẽ và thực chất hơn môi trường đầu tư, kinh doanh để tháo gỡ vướng mắc lớn hiện tại (như pháp lý đất đai, bất động sản, vốn…) và thể chế thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số, mô hình kinh doanh mới; đồng thời đẩy nhanh cơ cấu lại nền kinh tế nhằm huy động và phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn.
Thứ bảy, chủ động xây dựng chiến lược, giải pháp cụ thể để tăng tính độc lập, tự chủ, tự cường và nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế, của các ngành, lĩnh vực và doanh nghiệp Việt Nam./.
Phong Anh