Chính sách và Pháp luật

16:26 18/09/2023

Hải Dương: Nhiều vi phạm trong bản án sơ thẩm vụ chia tài sản ly hôn của TAND huyện Bình Giang

Đó là những khẳng định trong Quyết định Kháng nghị phúc thẩm của VKSND huyện Bình Giang với bản án số 08/2023/HNGĐ-ST của Thẩm phán TAND huyện Bình Giang. VKSND huyện Bình Giang đã chỉ ra tới 4 vi phạm, đe dọa nghiêm trọng quyền lợi của Nguyên đơn là ông Nguyên Thừa Khoản. Với một bản án mà có tới 4 vi phạm, nghiêng về một bên đương sự, dư luận đặt ra câu hỏi liệu có điều gì “khuất tất”?

Vụ án ly hôn gần 5 năm chưa xong, phiên xét xử dài… 4 ngày?

Ngày 9/11/2022, Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

Trong đó, Nghị quyết số 27 đã xác định nhiệm vụ xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức, cá nhân”.

Để thực hiện thành công nhiệm vụ này, hệ thống Tòa án các cấp  được xác định là một trong những đội ngũ chủ chốt. Trên thực tế, trong nhiều năm qua, đóng góp của hệ thống Tòa án các cấp nói chung, cán bộ, công nhiên viên nói riêng là vô cùng to lớn, đặc biệt với nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền. Vậy nhưng, bên cạnh những thành tựu to lớn, vẫn còn nổi cộm một số ít các vụ việc để xảy ra tồn tại, khiến dư luận cùng người dân bức xúc. Đơn cử như vụ án hôn nhân gia đình về “Ly hôn, tranh chấp tài sản khi ly hôn” tại Tòa án nhân dân (TAND) huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

Theo đó, thời gian gần đây, báo chí nhận được phản ánh của gia đình ông Nguyễn Thừa Khoản, là nguyên đơn trong vụ án hôn nhân gia đình về “Ly hôn, tranh chấp tài sản khi ly hôn” theo bản án số 08/2023/HNGĐ-ST về những dấu hiệu sai phạm tại bản án khiến quyền lợi của ông bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Hải Dương Nhiều vi phạm trong bản án sơ thẩm vụ chia tài sản ly hôn của TAND huyện Bình Giang
Người dân không đồng tình với bản án xét xử sơ thẩm của Thẩm phán TAND huyện Bình Giang.

Cụ thể, theo hồ sơ vụ án kèm theo đơn phản ánh, ông Khoản và bà Nguyễn Thị Liên kết hôn vào năm 1999, hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo đúng quy định. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với bố mẹ chồng được một thời gian, sau đó ra ở riêng. Hai vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Từ năm 2012 đến nay, ông Khoản về sống cùng bố mẹ, bà Liên ở nhà trên đất của 2 vợ chồng tại thử đất số 398, tờ bản đồ số 05, diện tích 173m2 tại thôn Bùi Xá, xã Nhân Quyền.

Do hôn nhân không đạt được mục đích nên ông Khoản đã yêu cầu TAND huyện Bình Giang giải quyết ly hôn. Về con chung và tài sản chung ông Khoản không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, về phần mình, bà Liên đã yêu cầu chia tài sản chung của hai vợ chồng.

Có lẽ sẽ chẳng có gì đáng nói nếu tất cả việc chia tài sản diễn ra đúng quy định và được ông bà đồng ý vì việc ly hôn vốn đã chỉ còn là thủ tục. Vậy nhưng, những bất thường của vụ việc đã khiến ông Khoản phải gửi đơn đi các cơ quan chức năng kêu cứu và yêu cầu được bảo vệ quyền lợi.

Theo ông, điểm bất thường đầu tiên ngay từ thủ tục thụ lý và giải quyết của TAND huyện Bình Giang. Theo đó, ông Khoản đã gửi đơn yêu cầu Tòa án giải quyết thủ tục ly hơn từ thời điểm tháng 6 năm 2019, nhưng phải đến mãi ngày 02/11/2022, TAND huyện Bình Giang mới có thông báo thụ lý vụ án số 167/2022/TLST-HNGĐ. Như vậy, từ thời điểm ông Khoản nộp đơn, hơn 4 năm TAND huyện Bình Giang mới thụ lý vụ án.

Căn cứ vào Điều 195 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định như sau:

1. Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí.

2. Thẩm phán dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào giấy báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.

3. Thẩm phán thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.

Trong khi đó, khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định: Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án, trừ các vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc vụ án có yếu tố nước ngoài đối với Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn; Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.

Trong trường hợp vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 02 tháng

Cùng với đó, theo hồ sơ được trích lục của vụ án án, dù đến tháng 11/2022, TAND huyện Bình Giang mới có thông báo thụ lý vụ án nhưng Thẩm phán Nguyễn Văn Cường và Thư ký đã tiến hành lấy lời khai, đo đạc hiện trạng, kiểm đếm tài sản từ những năm 2019, 2020?

Một điểm bất thường khác mà ông Khoản chỉ ra, đó là việc với một vụ án hôn nhân gia đình không quá phức tạp, nhưng Thẩm phán lại cho mời phiên xét xử, sau đó lại không hỏi han gì nhiều nhưng phiên tòa xét xử sơ thẩm lại kéo dài đến 4 ngày, từ ngày 25 đến tận ngày 28/4/2023. Và dù thời điểm phiên tòa còn chưa kết thúc, tức mới diễn ra được 3 ngày, Thẩm phán của TAND huyện Bình Giang chưa tuyên án nhưng ngày 27/4/2023, loa phát thanh của huyện Bình Giang đã phát thông báo về kết quả xét xử của ông, dù ông và gia đình còn chưa biết được bản án. Vậy có hay không việc “án bỏ túi” từ trước khi phiên xét xử, đã có từ trước khi Tòa tuyên án?

Cũng theo ông Khoản, việc thẩm định giá tài sản chung của 2 vợ chồng được Thẩm phán phụ trách thành lập, nhưng đầu tiên, tài sản khi định giá hoàn toàn dựa theo lời khai của bà Liên mà không căn cứ theo chứng cứ và lời khai của ông. Dẫn đến việc kiểm đến cả đất nông nghiệp, đất ở của anh trai và bố, mẹ của nguyên đơn. Cùng với đó, biên bản định giá tài sản căn cứ vào đâu, số tiền là bao nhiêu ông cũng không được biết? Sau này, theo hồ sơ vụ án, biên bản thẩm định giá hoàn toàn không có bất cứ chữ ký nào của các đương sự. Ông Khoản thắc mắc, vậy liệu có đúng quy định pháp luật?

Từ những dấu hiệu bất thường này và sau khi Thẩm phán TAND huyện Bình Giang tuyên án sơ thẩm, ông Khoản cho rằng, quyền lợi của mình đã không được đảm bảo. “Việc chia cho bà Liên hưởng 60% tài sản chung của 2 vợ chồng là không có căn cứ, vì tiền đất, tiền xây nhà là do tôi đi lao động xuất khẩu ở Malaixia gửi về và tiền của bố mẹ đẻ tôi cho. Cùng với đó, hiện tôi không có chỗ ở, không sở hữu đất ở, phải đi ở nhờ nhưng yêu cầu chia tài sản chung, được chia đất ở lại không được Thẩm phán đồng ý. Vậy quyền sở hữu về nhà ở của tôi theo quy định của Hiến pháp liệu có được đảm bảo? Tôi không hiểu vì nguyên nhân gì, động cơ, mục đích từ đâu mà vị Thẩm phán lại tuyên một bản án bất lợi nhiều cho tôi đến vậy.” Ông Khoản bức xúc.

Viện Kiếm sát chỉ ra 4 vi phạm trong bản án sơ thẩm

Những bức xúc, thắc mắc của ông Khoản không phải là không có căn cứ do sau khi ông có đơn kháng cáo phúc thẩm thì Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Bình Giang cũng đã ban hành Quyết định Kháng nghị phúc thẩm số 02/QĐ-VKS-HNGĐ, chỉ ra nhiều vi phạm trong bản án sơ thẩm của vụ án này.

Hải Dương Nhiều vi phạm trong bản án sơ thẩm vụ chia tài sản ly hôn của TAND huyện Bình Giang
Quyết định Kháng nghị phúc thẩm số 02/QĐ-VKS-HNGĐ của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang.

Theo bản án số 08/2023/HNGĐ-ST, Thẩm phán Nguyễn Văn Cường – Chủ tọa phiên tòa đã tuyên, quyết định cho ông Khoản ly hôn bà Liên. Về tài sản chung, bản án quyết định chia cho bà Liên quyền sử dụng toàn bộ nhà đất với diện tích 173m2 tại thửa đất 398. Cùng với đó, chia cho ông Khoản và bà Liên phần đất nông nghiệp như nhau là 382,2 m2 đã được đào ao cá, tại cánh đồng Trại Lợn. Nhưng giao cho bà Liên sở hữu 44m tấm đan kè bờ ao, bờ ao trại xi măng, công trình chăn nuôi,…

Bà Liên chỉ phải thanh toán cho ông Khoản số tiền tổng cộng là 202.843.200 đồng (tương đương 40% giá trị đất ở và tài sản trên đất ở) do bà Liên được hưởng quyền sử dụng toàn bộ căn nhà 2 tầng và 173m2 đất ở tại thửa đất 398. Bà Liên cũng chỉ phải thanh toán hơn 8,5 triệu đồng cho những người đã có công tôn tạo, xây dựng chuồng trại, kè trạt bê bông, kè ao,….

Tuy nhiên, theo VKSND huyện Bình Giang, bản án số 08/2023/HNGĐ-ST đã có một loạt những vi phạm. Cụ thể, về tỷ lệ chia tài sản chưa bảo đảm tương xứng với công sức đóng góp của vợ, chồng. VKSND huyện Bình Giang phân tích, thửa đất số 398, diện tích 173m2 là do vợ chồng tích lũy mua được sau khi kết hôn. Năm 2006, ông Khoản đi lao động nước ngoài; đến năm 2010, vợ chồng ông bà xây nhà là do tiền ông Khoản đi lao động gửi về và tiền vay của người thân trong gia đình. Và từ năm 2015 đến nay, ông Khoản về nước, ông đã có trách nhiệm trả nợ và đã trả gần hết số nợ này. Ông Khoản và bà Liên đã ly thân khoảng 14 năm nay, bà Liên tiếp tục sử dụng căn nhà, không có kiến tạo gì thêm trên thửa đất. Trong khi đó, ông Khoản phải đi ở nhờ nhà bố mẹ đẻ.

Do vậy, VKSND huyện Bình Giang khẳng định, Bản án sơ thẩm nhận định “bà Liên trông coi tài sản nhà đất trong nhiều năm, nên cần tính công sức duy trì tài sản cho bà Liên và chia cho bà Liên 60% trị giá tài sản” là không có căn cứ. Bản án sơ thẩm không bảo đảm quyền lợi của ông Khoản.

Thứ hai, về chia hiện vật, Bản án sơ thẩm của Thẩm phán Nguyễn Văn Cường cũng vi phạm quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

Theo đó, hồ sơ hiện trạng kèm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của vụ án, thì thửa đất số 398 gồm 1 nhà 2 tầng, 01 thửa đất phía sau và có đường đi vào. VKSND huyện Bình Giang cho biết, diện tích và thửa đất phía sau hoàn toàn phù hợp với hạn mức giao đất ở, hạn mức tách thửa với đất ở nông thôn của tỉnh Hải Dương.

Cùng với đó, trong quá trình giải quyết vụ án, ông Khoản và bà Liên đều yêu cầu được chia đất ở. Hai ông bà đều không còn quyền sử dụng đất ở nào khác, hiện ông Khoản còn đang phải đi ở nhờ. Do vậy, VKSND huyện Bình Giang đánh giá, Bản án sơ thẩm quyết định giao toàn bộ thửa đất 398 và các công trình trên đất cho bà Liên là không đảm bảo quyền lợi của ông Khoản.

Hải Dương Nhiều vi phạm trong bản án sơ thẩm vụ chia tài sản ly hôn của TAND huyện Bình Giang
VKSND huyện Bình Giang đánh giá, việc giao toàn bộ thửa đất 398 và các công trình trên đất cho bà Liên là không đảm bảo quyền lợi của ông Khoản.

Hơn nữa, cách chia hiện vật này của Hội đồng xét xử là không có căn cứ, vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 59, Luật Hôn nhân và gia đình 2014: “Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị.

Ngoài ra, theo tìm hiểu, tại Điều 22 Hiến pháp năm 2013 đã hiến định: “Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp“. Cùng với đó, Điều 32 cũng quy định: “Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, ...”

Thứ ba, VKSND huyện Bình Giang cũng chỉ ra rằng, việc định giá và áp dụng kết quả tài sản cũng không đảm bảo quyền lợi của ông Khoản.

Cụ thể, ngày 20/5/2020, Hội đồng định giá đã khảo sát tài sản  và định giá 1.500.000 đồng/m2. Tuy nhiên, theo quy định mới năm 2022, thì định giá đất theo vị trí của thửa đất số 398 đã là 2.700.000 đồng/m2.

Trong khi đó, quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã giải thích cho đương sự về quyền được yêu cầu định giá lại tài sản, nhưng lại chưa giải thích rõ cho đương sự hiểu rằng: “Nếu đương sự chia toàn bộ thửa đất diện tích 173m2 này cho ai, thì người đó phải thanh toán số tiền cho người còn lại. Vì vậy, nếu giá đất thấp, người nhận tiền sẽ chịu thiệt.” Cùng với đó, giá đất tại thời điểm định giá là thấp hơn nhiều so với giá đất thị trường thời điểm xét xử.

Do đó, VKSND huyện Bình Giang nhận định, Bản án sơ thẩm vẫn áp dụng kết quả định giá năm 2020 để giải quyết vụ án và tuyên giao toàn bộ diện tích đất 173m2 cho bà Liên, buộc bà Liên trả số tiền chỉ hơn 200 triệu đồng là không bảo đảm quyền lợi của ông Khoản.

Hải Dương Nhiều vi phạm trong bản án sơ thẩm vụ chia tài sản ly hôn của TAND huyện Bình Giang
Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Giang.

Ngoài ra, VKSND huyện Bình Giang cũng chỉ ra những sai sót về án phí, những thiếu sót trong việc chia tài sản đất nông nghiệp, yêu cầu thanh toán số tiền chênh lệch với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

Không hiểu vì nguyên nhân gì, mà một Bản án sơ thẩm của TAND huyện Bình Giang lại có nhiều tồn tại được VKSND huyện Bình Giang chỉ ra đến vậy? Liệu rằng, do năng lực chuyên môn hay còn có động cơ, mục đích, yếu tố nào khác tác động? Nguyên nhân nào khiến một bản án hôn nhân gia đình đáng ra phải rất công tâm, đảm bảo quyền lợi các bên bị thay đổi?

Liên quan đến vụ án này, còn nhiều điểm cho thấy dấu hiệu Thẩm phán, HĐXX chưa làm hết chức năng, nhiệm vụ của mình. Thương Trường sẽ liên hệ với các cơ quan chức năng và tiếp tục thông tin./.

Đinh Hiệu