NIM toàn ngành ngân hàng tăng 16 điểm cơ bản trong quý II/2026 lên 3,15%, hỗ trợ lợi nhuận sau thuế thuộc về cổ đông của 27 ngân hàng tăng 25% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, theo Yuanta Việt Nam, NIM có thể chịu áp lực trong nửa cuối năm khi thanh khoản vẫn gặp khó và Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các ngân hàng giảm lãi suất để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
NIM phục hồi nhờ kéo dài kỳ hạn cho vay
Theo báo cáo của Yuanta Việt Nam, lợi nhuận sau thuế thuộc về cổ đông (PATMI) của 27 ngân hàng đạt 88.000 tỷ đồng trong quý II/2026, tăng 18% so với quý trước và 25% so với cùng kỳ. Lũy kế 6 tháng đầu năm, PATMI tăng 19% so với cùng kỳ. Tăng trưởng lợi nhuận diễn ra trên diện rộng với 18 ngân hàng ghi nhận lợi nhuận tăng, 6 ngân hàng giảm và 3 ngân hàng gần như đi ngang.
Ba động lực chính hỗ trợ lợi nhuận trong quý II gồm NIM cải thiện, tín dụng tăng trưởng và đòn bẩy hoạt động được cải thiện. Trong đó, NIM toàn ngành tăng 16 điểm cơ bản so với quý trước lên 3,15%, nhờ kéo dài kỳ hạn cho vay và chuyển dịch sang các khoản cho vay có lợi suất cao hơn. Tăng trưởng tín dụng của 27 ngân hàng đạt 9,2% từ đầu năm tính đến quý II/2026. Đồng thời, tỷ lệ CIR điều chỉnh giảm xuống 31,3%, thấp hơn 2,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ, trong khi thu nhập từ phí tăng lên 14,2% tổng doanh thu điều chỉnh.
Dù tăng theo quý, NIM vẫn giảm 10 điểm cơ bản so với cùng kỳ, cho thấy chi phí vốn tăng nhanh hơn lợi suất tài sản. Lợi suất tài sản toàn ngành tăng 92 điểm cơ bản lên 7,70%, trong khi chi phí vốn tăng 105 điểm cơ bản lên 4,79%. Theo Yuanta Việt Nam, NIM được hỗ trợ không phải nhờ giảm chi phí vốn mà bằng cách tái định giá khoản cho vay và kéo dài kỳ hạn.
Cơ cấu kỳ hạn cho vay toàn ngành giai đoạn quý 1/2016 – quý 2/2026 (% tổng dư nợ)
Dư nợ dài hạn hiện chiếm 33,1% tổng danh mục cho vay, tăng 2,7 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước và tăng 3,5 điểm phần trăm từ mức đáy 29,6% trong quý II/2024. Tỷ trọng này từng duy trì ở mức 34-35% trong giai đoạn 2019-2022 và đạt 35% vào quý II/2020. Mức 33,1% trong quý II/2026 là sự quay trở lại mức bình thường trước năm 2023.
Việc nâng tỷ lệ tối đa vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn lên 40%, từ 30%, giúp giải tỏa áp lực bảng cân đối, hỗ trợ tăng trưởng tín dụng và NIM. Tuy nhiên, Yuanta Việt Nam cho rằng việc gia tăng tỷ lệ này chỉ nên được xem là biện pháp hỗ trợ tạm thời, thay vì động lực tăng trưởng có thể duy trì bền vững. Ngân hàng Nhà nước nhiều khả năng vẫn duy trì mục tiêu dài hạn là giảm rủi ro lệch pha kỳ hạn, đồng nghĩa tỷ lệ này có thể được điều chỉnh giảm trở lại mức 30% khi điều kiện thị trường cho phép.
CASA vẫn là lợi thế cạnh tranh cốt lõi, nhưng khoảng cách giữa các ngân hàng đang thu hẹp. CASA toàn ngành giảm 121 điểm cơ bản so với cùng kỳ xuống 20,9%. MBB, TCB và VCB vẫn duy trì CASA trên 30%, lần lượt đạt 34,6%, 35% và 33,9%, đồng thời là những ngân hàng lớn bảo vệ được NIM theo quý trong quý II. Dù vậy, CASA của MBB giảm 3,3 điểm phần trăm, TCB giảm 1,4 điểm phần trăm và VCB giảm 3 điểm phần trăm so với cùng kỳ.
Theo Yuanta Việt Nam, sự khác biệt hiện nay không chỉ nằm ở quy mô CASA mà còn ở tính bền vững của dòng tiền gửi. Riêng tại TCB, đà tăng CASA trong quý II chủ yếu đến từ tiền gửi khách hàng doanh nghiệp, vốn có tính biến động cao hơn tiền gửi khách hàng cá nhân.
Hạn mức tín dụng 2027 có thể chịu tác động từ yêu cầu giảm lãi suất
Tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 9% tính đến ngày 31/7/2026, trong khi tăng trưởng tín dụng của 27 ngân hàng đạt 9,2% tính đến quý II. Trong khi đó, huy động tiền gửi chỉ tăng 6,7% từ đầu năm. Chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động khiến tỷ lệ LDR toàn ngành tăng lên 114% trong quý II/2026, từ mức 108% cùng kỳ năm trước.
Tăng trưởng tín dụng so với huy động tiền gửi theo từng ngân hàng (% YTD)
Diễn biến tăng trưởng tín dụng cũng có sự phân hóa. Nhóm ngân hàng tham gia tái cơ cấu tiếp tục có mức tăng trưởng cao hơn mặt bằng chung, gồm VPB tăng 23% từ đầu năm, HDB tăng 20,6% và MBB tăng 13,2%. Trong khi đó, nhóm ngân hàng thương mại nhà nước có mức tăng thấp hơn mức bình quân ngành, với CTG tăng 5%, VCB tăng 5% và BID tăng 5,4%. STB chỉ tăng trưởng tín dụng 1,5% từ đầu năm do vẫn tập trung làm sạch bảng cân đối để tiến tới hoàn thành tái cơ cấu.
Trong bối cảnh thanh khoản vẫn gặp khó, Yuanta Việt Nam cho rằng NIM sẽ chịu áp lực trong nửa cuối năm 2026. Đáng chú ý, Ngân hàng Nhà nước đã tổ chức cuộc họp với các ngân hàng thương mại ngày 13/8, kêu gọi các ngân hàng giảm lãi suất để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Theo báo cáo, những ngân hàng không tuân thủ có thể đối mặt với việc bị cắt giảm hạn ngạch tăng trưởng tín dụng trong năm 2027.
Theo Yuanta Việt Nam, chính sách này có thể tiếp tục gia tăng áp lực lên NIM trong nửa cuối năm 2026. Các ngân hàng có lợi thế CASA mạnh như MBB, TCB và VCB, cùng những ngân hàng có khả năng đẩy mạnh cho vay kỳ hạn dài hơn như ACB, CTG và VCB, được kỳ vọng bảo vệ NIM hiệu quả hơn so với các ngân hàng khác.
Bên cạnh nguồn vốn trong nước, các ngân hàng thương mại Việt Nam đã quay trở lại thị trường vay hợp vốn quốc tế với tổng giá trị khoảng 3,4 tỷ USD, gồm các khoản đã ký và đang triển khai tại 4 ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân kể từ đầu năm 2026. VPBank có khoản vay liên kết bền vững hạn mức 1,44 tỷ USD kỳ hạn 3 năm ký ngày 30/6; Techcombank đang kế hoạch huy động 1 tỷ USD; HDBank ký khoản vay 721 triệu USD vào tháng 7; ACB đang tiếp cận thị trường với khoản vay 300 triệu USD.
Theo Yuanta Việt Nam, mục tiêu của các ngân hàng khi huy động vốn quốc tế là kỳ hạn và tính ổn định của nguồn vốn, không phải chi phí rẻ. Biên độ lãi suất vay gần đây của các ngân hàng Việt Nam dao động cao hơn 140-170 điểm cơ bản so với lãi suất SOFR. Với SOFR hiện tại khoảng 3,62%, chi phí vay bằng USD ước tính khoảng 5-5,3%, nếu biên độ giữ nguyên ở mức năm 2022. Sau khi tính thêm chi phí phòng ngừa rủi ro tỷ giá và phí thu xếp, Yuanta Việt Nam cho rằng chi phí thực tế của nguồn vốn quốc tế không rẻ hơn huy động trong nước.
Trong nửa cuối năm 2026, NIM được Yuanta Việt Nam dự báo tiếp tục chịu áp lực khi thanh khoản còn khó khăn và các ngân hàng chịu yêu cầu giảm lãi suất. Trong bối cảnh đó, lợi thế CASA và khả năng đẩy mạnh cho vay kỳ hạn dài hơn được đánh giá là những yếu tố giúp một số ngân hàng bảo vệ NIM tốt hơn. Yuanta Việt Nam cho rằng việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn lên 40% chỉ mang tính hỗ trợ tạm thời, trong khi mục tiêu dài hạn vẫn là giảm rủi ro lệch pha kỳ hạn trong hệ thống.
Trung Anh