08:31 17/12/2025

Hàng Việt: Giữ vững thị trường nội, tiến chắc ra thị trường ngoại

Khi người tiêu dùng chuyển sang kênh mua sắm hiện đại, doanh nghiệp nội tiếp tục mở rộng độ phủ, tận dụng chính sách hỗ trợ và thói quen tiêu dùng đặc thù từng vùng để gia tăng thị phần. Bên cạnh đó, hoạt động xúc tiến thương mại (XTTM) trở thành điểm tựa giúp doanh nghiệp tiếp cận người tiêu dùng quốc tế, mở rộng thị trường và nâng cao giá trị hàng Việt.

Dịch chuyển sang mô hình bán lẻ hiện đại

Báo cáo của SHS Research (Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội) cho thấy, cho dù kênh truyền thống vẫn chiếm tỷ trọng lớn song xu hướng dịch chuyển sang mô hình bán lẻ hiện đại ngày càng rõ rệt.

Hiện cả nước có hơn 1,4 triệu cửa hàng tạp hóa và 8.300 chợ truyền thống. Đây vẫn là hệ thống bán hàng chủ lực, nhưng tốc độ mở mới cao nhất thuộc về minimart và cửa hàng tiện lợi. Việt Nam ghi nhận 7.483 cửa hàng tiện lợi và minimart, chiếm hơn 93% tổng số điểm bán của kênh hiện đại.

Nhóm này tăng trưởng với CAGR (tỷ lệ tăng trưởng kép hàng năm) 18,7% trong 5 năm gần nhất, tốc độ cho thấy thói quen mua sắm đang thay đổi nhanh hơn dự báo. Đáng chú ý, doanh nghiệp nội chiếm tới 81% tổng số điểm bán hiện đại, nhờ lợi thế về phạm vi phủ sóng tại khu dân cư.

WinCommerce, Bách Hóa Xanh, Co.opmart, Co.opXtra, Lan Chi, FujiMart và BRG Mart tiếp tục bám sát nhu cầu theo từng khu vực, vận hành theo đặc thù vùng miền, từ đô thị tới nông thôn. Trong khi đó, AEON hay Central Retail vẫn đóng vai trò lớn ở phân khúc đại siêu thị, nhưng về độ phủ thì doanh nghiệp nội đang vượt trội với mạng lưới mở rộng nhanh.

Hàng Việt Giữ vững thị trường nội tiến chắc ra thị trường ngoại
Lợi thế lớn nhất của doanh nghiệp nội nằm ở khả năng am hiểu văn hóa tiêu dùng của người Việt.

Thấu hiểu hành vi tiêu dùng

Theo SHS Research, khả năng mở rộng điểm bán chỉ là một nửa bài toán. Yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh nằm ở việc thấu hiểu hành vi tiêu dùng.

Nhu cầu của người Việt khác nhau theo từng vùng và thể hiện rõ ở thói quen mua thực phẩm theo ngày, ưu tiên thương hiệu quen thuộc hay lựa chọn hàng Việt trong nhóm hàng tiêu dùng nhanh (FMCG). Điều này giúp doanh nghiệp nội dễ tùy biến danh mục sản phẩm theo từng địa phương, từ miền núi, nông thôn tới các khu đô thị đông dân.

Khu vực nông thôn cũng đang có xu hướng nhấn mạnh tiêu chí an toàn, chất lượng và nguồn gốc rõ ràng. Tuy nhiên, kênh bán lẻ hiện đại mới chỉ khai thác một phần nhỏ khu vực này.

Trong khi, bán lẻ hiện đại chỉ chiếm khoảng 19% thị phần, thấp hơn nhiều so với mức 50 - 60% của các thị trường Đông Nam Á. Với nền thấp, kênh hiện đại tại Việt Nam có khả năng tăng trưởng gấp 3 lần trong các năm tới.

SHS Research nhận định, Việt Nam hiện có mật độ điểm bán hiện đại ở mức 81 cửa hàng/1 triệu dân, thấp hơn nhiều so với Malaysia (322 cửa hàng), Thái Lan (367 cửa hàng) và Indonesia (173 cửa hàng). Khoảng cách này cho thấy, tiềm năng phát triển của kênh hiện đại còn rất lớn, đặc biệt tại các tỉnh và khu vực nông thôn.

Trong khi đó, bán lẻ hiện đại mới chiếm khoảng 19% thị phần, thấp hơn nhiều so với mức 50 - 60% của các nước Đông Nam Á. Với nền thấp, thị trường Việt Nam được đánh giá có thể tăng ít nhất gấp ba lần trong thời gian tới. Mạng lưới hiện có và tốc độ mở mới nhanh đang giúp doanh nghiệp nội tiến gần hơn tới mục tiêu tăng trưởng trong ngành Bán lẻ và FMCG, lĩnh vực được dự báo đạt giá trị hàng trăm tỷ USD.

Theo SHS Research, lợi thế lớn nhất của doanh nghiệp nội nằm ở khả năng am hiểu văn hóa tiêu dùng của người Việt. Từ khẩu vị, nhịp sống đến thói quen mua sắm tại từng khu vực đều được phản ánh cụ thể ở nhu cầu thực phẩm tươi theo ngày, việc ưu tiên thương hiệu quen thuộc và xu hướng chọn hàng Việt trong nhóm FMCG. Đặc biệt, khu vực nông thôn chú trọng tiêu chí an toàn, chất lượng và nguồn gốc rõ ràng. Điều này giúp doanh nghiệp nội tùy biến danh mục sản phẩm theo đặc điểm vùng miền, từ miền núi, nông thôn đến đô thị đông dân.

Theo báo cáo, sự khác biệt tiêu dùng giữa các vùng được xem là cơ sở để hệ thống bán lẻ hiện đại điều chỉnh hàng hóa phù hợp. Đây cũng là yếu tố giúp doanh nghiệp nội giữ chân người mua tốt hơn trong bối cảnh cạnh tranh mở rộng.

Phủ sóng thị trường tiêu dùng toàn cầu

Năm 2025, hoạt động Xúc tiến thương mại (XTTM) ghi nhận nhiều kết quả toàn diện, góp phần đưa kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 839,75 tỷ USD, tăng 17,2% so với cùng kỳ 2024.

Ông Vũ Bá Phú Cục trưởng Cục XTTM (Bộ Công Thương) cho biết: Cục XTTM đã triển khai loạt chương trình quy mô lớn và chuyên sâu tại nhiều thị trường trọng điểm, trong đó có EU, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, ASEAN, Ấn Độ, Trung Đông, châu Phi và Mỹ Latinh.

Bên cạnh đó, các thị trường ngách và khu vực có FTA/CEPA với Việt Nam cũng được tăng cường khai thác, đáng chú ý là Saudi Arabia, Ai Cập, UAE, Brazil và Bắc Phi. Các chương trình xúc tiến tập trung vào nhóm hàng có lợi thế như nông sản, thực phẩm, hàng tiêu dùng và sản phẩm Halal.

Song song với nhóm hàng truyền thống, Cục XTTM còn đẩy mạnh giới thiệu các ngành hàng công nghệ cao như bán dẫn, AI, tự động hóa, thiết bị - linh kiện và năng lượng tái tạo. Các hoạt động này nhận được phản hồi tích cực từ doanh nghiệp, nhiều hợp đồng trị giá hàng chục triệu USD được ký kết ngay tại hội chợ và hội nghị giao thương.

Cục XTTM cũng tiếp tục tổ chức các khóa đào tạo cho doanh nghiệp về phát triển thương hiệu, tham gia chuỗi giá trị, nắm bắt thông tin thị trường và đối phó rào cản kỹ thuật. Đây được xem là hỗ trợ cần thiết để doanh nghiệp nâng khả năng tiếp cận người tiêu dùng quốc tế trong bối cảnh tiêu chuẩn thị trường ngày càng khắt khe.

Hàng Việt Giữ vững thị trường nội tiến chắc ra thị trường ngoại
Hoạt động Xúc tiến thương mại góp phần đưa kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 839,75 tỷ USD, tăng 17,2% so với cùng kỳ 2024

Thương mại điện tử và Xanh hóa hàng Việt

Ông Vũ Bá Phú cho biết, 47% doanh nghiệp toàn cầu xác định ESG và mục tiêu Net-Zero là ưu tiên chiến lược đến năm 2030. Theo ông Phú, xây dựng hệ sinh thái xúc tiến theo hướng toàn diện, đa lớp và phù hợp xu thế xanh hóa thị trường quốc tế đang được chú trọng. Trọng tâm là hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi theo kinh tế tuần hoàn, tiêu chuẩn xanh và truy xuất nguồn gốc.

Chuyển đổi xanh cũng đặt ra nhiều thách thức như đầu tư công nghệ, minh bạch phát thải, kiểm soát nguyên liệu và thay đổi quản trị chuỗi cung ứng. Vì vậy, hệ sinh thái xúc tiến xanh được xem là giải pháp giúp doanh nghiệp thích ứng với rào cản thương mại mới, giảm chi phí chuyển đổi và tiếp tục duy trì khả năng tiếp cận người tiêu dùng ở các thị trường khó tính.

Bên cạnh xanh hóa, ứng dụng công nghệ số và thương mại điện tử (TMĐT) xuyên biên giới tiếp tục là trụ cột trong chiến lược tiếp cận người tiêu dùng quốc tế. TMĐT giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí, rút ngắn thời gian và tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng nước ngoài. Nhiều doanh nghiệp đã tham gia các sàn toàn cầu như Amazon, Alibaba; được hướng dẫn vận hành gian hàng số, quảng bá sản phẩm và nâng năng lực marketing số.

Dữ liệu tiêu dùng từ các nền tảng TMĐT được đánh giá là nguồn thông tin quan trọng, giúp doanh nghiệp điều chỉnh sản phẩm phù hợp thị hiếu từng thị trường. Một số sàn TMĐT lớn cũng được định hướng xây dựng gian hàng quốc gia để tăng hiện diện của hàng Việt trong môi trường số, tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận người tiêu dùng quốc tế thuận lợi hơn.

Năm 2025, Hội chợ Mùa Thu lần thứ I ghi nhận hơn 100 thỏa thuận hợp tác được ký kết. Hội chợ phản ánh xu hướng chuyển đổi từ xúc tiến truyền thống sang mô hình xúc tiến tổng hợp, kết nối thương mại, đầu tư, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Cách làm này mở đường để doanh nghiệp đưa hàng Việt tới gần hơn với người tiêu dùng ở nhiều thị trường mới.

Nguyễn Hà