Những mức lãi suất tiền gửi hấp dẫn xuất hiện dày hơn khi các ngân hàng tìm vốn cho những tháng cuối năm. Nhưng phía sau con số quảng bá là điều kiện về khách hàng, kỳ hạn và sản phẩm. Với người đang vay, câu hỏi đáng quan tâm là chi phí huy động tăng sẽ đi vào lãi vay nhanh đến đâu.
Mức lãi cao dành cho ai?
Cuối tháng 9, thị trường tiền gửi liên tục xuất hiện những mức lãi suất gây chú ý. Người có tiền nhàn rỗi nhìn thấy thêm cơ hội tăng khoản lãi nhận về. Người đang trả nợ ngân hàng lại có lý do để theo dõi sát hơn: nếu nhà băng phải trả nhiều tiền hơn để huy động vốn, dư địa giảm lãi cho vay về cuối năm có thể thu hẹp.
Dù vậy, một mức lãi suất nổi bật trên quảng cáo chưa nói lên giá vốn của cả ngân hàng. Để nhận được mức ấy, khách hàng có thể phải gửi đúng ngày, chọn đúng kỳ hạn, mở khoản tiền gửi mới hoặc thuộc một nhóm khách hàng nhất định. Lãi của chứng chỉ tiền gửi cũng cần được đọc theo điều kiện của sản phẩm, thay vì đặt ngang với sổ tiết kiệm thông thường.
Chẳng hạn, Techcombank có chương trình cộng thêm tối đa 1%/năm cho hội viên Private hoặc Priority mở khoản tiền gửi đủ điều kiện trong khoảng ngày 20–25 hằng tháng. Chương trình áp dụng cho một số sản phẩm ở kỳ hạn 3, 6 và 12 tháng; khoản tiền gửi không được tất toán trước hạn. Như vậy, mức “cộng thêm 1%” không mặc nhiên dành cho mọi khách hàng đến gửi tiền.
Một chính sách khác của ngân hàng này dành cho khoản tiền gửi đầu tiên của khách hàng mới có mức cộng thêm tối đa 1,3%/năm. Hai khách hàng cùng gửi một số tiền, cùng thời điểm, có thể nhận mức lãi khác nhau nếu chỉ một người đáp ứng điều kiện ưu đãi.
VPBank đưa ra chứng chỉ tiền gửi Lộc Thịnh Vượng, với khả năng mua, bán hoặc chuyển nhượng trên ứng dụng theo thời gian nắm giữ. Đây là một cách huy động vốn khác với sổ tiết kiệm quen thuộc. Người mua cần xem lợi suất gắn với thời gian nắm giữ thực tế và cách xử lý khi cần tiền trước dự kiến; chỉ nhìn con số lợi suất cao nhất sẽ khó biết khoản lãi mình có thể nhận.
Ở nhiều ngân hàng, mức lãi tiền gửi còn thay đổi theo kỳ hạn, hình thức gửi tại quầy hay trực tuyến và quy mô khoản tiền. Chính sự khác biệt này khiến việc lấy vài mức lãi cao nhất để kết luận toàn thị trường đã tăng tương ứng trở nên thiếu chắc chắn.
Muốn biết áp lực huy động đã lan rộng hay chưa, cần nhìn thêm lãi suất thông thường ở nhiều ngân hàng, các kỳ hạn chủ lực và mức lãi khách hàng thực sự nhận được sau khi đáp ứng điều kiện. Những chương trình dành cho một nhóm nhỏ người gửi tiền có thể giúp ngân hàng hút vốn ở thời điểm cần thiết, nhưng chưa đủ để khẳng định toàn bộ nguồn vốn của họ đã đắt lên cùng một mức.
Những mức lãi suất tiền gửi hấp dẫn xuất hiện dày hơn khi các ngân hàng tìm vốn cho những tháng cuối năm.
Người vay nhìn vào ngày hết ưu đãi
Tiền gửi và tiền vay không chuyển động đồng thời theo một công thức cố định. Ngân hàng còn nguồn vốn đã huy động từ trước với mức lãi khác nhau; lãi cho vay phụ thuộc kỳ hạn, tài sản bảo đảm, chất lượng khách hàng và thỏa thuận trong từng hợp đồng. Bởi vậy, một chương trình cộng lãi tiền gửi bắt đầu hôm nay không có nghĩa lãi vay của tất cả khách hàng sẽ tăng vào ngày mai.
Áp lực rõ hơn nếu các ngân hàng phải duy trì mức huy động cao trong thời gian dài để đáp ứng nhu cầu tín dụng. Khi khoản tiền gửi cũ đáo hạn và được thay bằng nguồn vốn mới có chi phí cao hơn, nhà băng phải tính lại khả năng giữ biên lợi nhuận. Họ có thể chấp nhận biên lãi thấp hơn, tiết giảm chi phí, lựa chọn khoản vay ít rủi ro hơn hoặc điều chỉnh giá cho vay. Ngân hàng chọn cách nào còn tùy tình hình vốn và cạnh tranh trên thị trường.
Doanh nghiệp vay ngắn hạn để nhập hàng, trả nhà cung cấp hay bổ sung vốn lưu động sẽ cảm nhận thay đổi qua từng lần tái cấp hạn mức. Với một khoản dư nợ bình quân 10 tỷ đồng, lãi suất tăng thêm 1 điểm phần trăm trong một năm tương ứng khoảng 100 triệu đồng tiền lãi, nếu dư nợ được duy trì suốt năm. Đây là phép tính minh họa; chi phí thực tế thay đổi theo lịch rút vốn và trả nợ. Với doanh nghiệp có biên lợi nhuận mỏng, khoản chênh ấy có thể ảnh hưởng đến quyết định dự trữ hàng cho mùa cuối năm.
Người vay mua nhà lại đối diện một mốc khác: ngày kết thúc thời gian lãi suất ưu đãi. Sau mốc này, hợp đồng thường chuyển sang cách tính lãi theo một mức tham chiếu cộng biên độ đã thỏa thuận. Điều cần kiểm tra là mức tham chiếu được xác định ra sao, điều chỉnh bao lâu một lần và dư nợ gốc còn lại tại thời điểm chuyển lãi.
Ví dụ, với dư nợ còn 2 tỷ đồng, lãi suất tăng thêm 1 điểm phần trăm làm tiền lãi tăng khoảng 20 triệu đồng trong một năm, nếu tạm giả định dư nợ không đổi. Thực tế, người vay thường trả gốc theo tháng nên con số sẽ khác. Nhưng phép tính đủ cho thấy vì sao một thay đổi tưởng nhỏ về lãi suất lại đáng kể với ngân sách gia đình.
Người vay cũng cần phân biệt lãi suất chào cho khách hàng mới với lãi suất áp dụng cho hợp đồng đang trả nợ. Một gói vay quảng bá mức thấp trong sáu hoặc mười hai tháng đầu không trả lời được câu hỏi người vay sẽ trả bao nhiêu sau giai đoạn ấy. Khi so sánh ngân hàng, lịch trả nợ trong ba đến năm năm có giá trị hơn việc chỉ so mức lãi mở đầu.
Những mức lãi tiền gửi cao đang phát đi tín hiệu cạnh tranh huy động vốn, nhưng chưa đủ để kết luận lãi cho vay cuối năm chắc chắn tăng. Với doanh nghiệp chuẩn bị xoay vòng vốn và hộ gia đình sắp hết ưu đãi mua nhà, đây đã là thời điểm phải tính lại dòng tiền: khoản nợ còn bao nhiêu, lãi sẽ điều chỉnh vào ngày nào và ngân sách chịu được mức tăng đến đâu.
Thanh Cao