Nhiều vụ việc nông sản “rởm” biến hình, núp bóng tiêu chuẩn VietGAP để vào siêu thị, hệ thống bán lẻ bị phanh phui khiến người tiêu dùng dần mất niềm tin vào thực phẩm sạch. Điều này đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của các nhà bán lẻ, phân phối khi họ vô tình là nạn nhân của việc làm giả nhãn mác. Vậy làm thế nào để tăng cường quản lý, nâng cao chất lượng nông sản từ nguồn sản xuất?
Giải bài toán từ khâu quản lý, cấp phép
Những tháng gần đây, câu chuyện mua gì, ở đâu được người tiêu dùng đặc biệt quan tâm sau khi báo chí thông tin về việc Công ty TNHH nông sản Trình Nhi (còn gọi là Trình Nhi Foods, TNFoods) có nhà máy tại lô F2, Khu công nghiệp Phú Hội, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng bán rau sạch rởm "biến hình" vào Winmart, Tiki ngon... Theo đó, con đường đưa rau bẩn vào siêu thị của Công ty TNHH nông sản Trình Nhi bắt đầu từ những người đi xe máy xuất phát từ các chợ đầu mối rồi giao các loại rau, củ, quả cho công nhân nhận và tiếp tục sơ chế, đóng gói vào bịch nhỏ, khay hoặc túi lưới. Sau đó nhóm công nhân tiếp tục hoàn tất việc sơ chế, đóng gói, rồi phân công nhau dán tem nhãn để kịp giao cho các shipper (người giao hàng).
Mặc dù, rau được các xe ôm đưa đến, nhưng sao khi đóng gói tem nhãn được dán lên các bịch/khay/túi lại ghi dòng chữ "Rau củ quả Đà Lạt", kèm thông tin Công ty TNHH nông sản Trình Nhi với nơi sản xuất tại lô F2, Khu công nghiệp Phú Hội, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Đặc biệt, trên tem của đơn vị này còn có logo biểu thị rau củ đạt chuẩn VietGAP (thực hành sản xuất nông nghiệp tốt ở Việt Nam, do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành).
Nhiều sản phẩm rau gắn mác rau sạch để phân phối vào siêu thị nhưng thực chất là rau nhập tại các chợ dân sinh, không rõ nguồn gốc.
Vụ việc “rau bẩn đội lốt rau sạch” của Công ty TNHH nông sản Trình Nhi không phải là trường hợp cá biệt đầu tiên vì trước đó cũng đã có nhiều đơn vị làm ăn theo kiểu “chộp giật” tương tự. Trước đó, năm 2010, đoàn thanh tra liên ngành đề xuất với UBND thành phố Biên Hòa xử phạt hành chính đối với ông Nguyễn Hữu Đức - Chủ nhiệm HTX Sản xuất và Dịch vụ rau an toàn Trảng Dài vì đã biến rau bẩn thành rau sạch rồi đưa vào siêu thị tiêu thụ. Theo kết quả xác minh của các cơ quan chức năng Biên Hòa, từ tháng 8/2009 đến tháng 8/2010, cơ sở này đã mua rau trôi nổi tại chợ Sặt (phường Tân Biên), bán vào siêu thị dưới danh nghĩa là rau của hợp tác xã và ghi là rau an toàn. Mặc dù là hộ gia đình cung cấp rau cho siêu thị, nhưng vẫn sử dụng phiếu kiểm nghiệm chất lượng của hợp tác xã.
Trước nữa, báo chí cũng đã đăng tải thông tin về vụ việc của Hợp tác xã RAT Đạo Đức (Vân Nội, Đông Anh) của vợ chồng ông bà Liên - Hòa chuyên cung cấp rau cho siêu thị, bếp ăn khu công nghiệp. Theo nhân viên văn phòng hợp tác xã, hằng ngày bà Liên ra ruộng của nông dân thu mua rau, sau đó đặt hàng những người bán rau này để mang về nhà. Chỉ sau một vài công đoạn rửa và đóng gói vào các bao bì được in sẵn, các loại rau củ quả đó được gia đình này mang đến giao cho các siêu thị lớn ở Hà Nội.
Một con số thống kê hiếm hoi liên quan đến chất lượng rau củ được Cục Quản lý chất lượng Nông lâm và Thuỷ sản (Nafiqad) thực hiện đã cho thấy nhiều tín hiệu đang lo ngại. Theo đó, Nafiqad tiến hành lấy mẫu giám sát, kiểm soát chất lượng nguồn rau quả đưa vào chợ tại 3 chợ lớn nhất Tp.Hồ Chí Minh là Tân Xuân, Bình Điền, Hóc Môn. Thống kê từ đầu năm 2022 đến nay, Nafiqad đã thực hiện kiểm tra dư lượng hoá chất, thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng với 2.503 mẫu. Kết quả cho thấy, có 40 mẫu vi phạm dư lượng, chiếm 1,6%. Kiểm tra vi sinh với 13 mẫu, kết quả không có mẫu nào vi phạm về chỉ tiêu vi sinh. Trong khi đó, năm 2018, đơn vị kiểm tra 13.376 mẫu thì phát hiện 198 mẫu vi phạm dư lượng hoá chất, thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng, chiếm tỷ lệ 1,48%.
Nắm bắt được nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong xã hội phát triển ngày nay, đặc biệt là nhu cầu sử dụng thực phẩm sạch, thực phẩm an toàn để bảo vệ sức khỏe, nên các đối tượng đã “lóa mắt” trước lợi nhuận, không từ thủ đoạn nào, thậm chí coi thường tính mạng và sức khỏe của cộng đồng, đưa thực phẩm không đảm bảo an toàn vào các siêu thị. Điều đáng nói, các siêu thị, nhà bán lẻ không hề dễ dàng trong khâu tuyển chọn đầu vào nhưng vẫn bị qua mặt. Nhiều cơ sở yêu cầu đơn vị có chứng nhận tiêu chuẩn VietGAP, có hợp đồng cung cấp từ các cơ sở tiêu chuẩn VietGAP hoặc điều kiện tương đương nhưng các đối tượng này bằng cách nào đó vẫn có đầy đủ giấy tờ, hồ sơ đáp ứng. Và sau khi đã ký hợp đồng cung ứng với đơn vị bán lẻ, câu chuyện nguồn gốc thực phẩm xuất phát từ đâu thì chỉ có các đối tượng này nắm rõ.
Trên lý thuyết, hệ thống cấp chứng nhận VietGAP được quản lý rất chặt chẽ với đầy đủ quy định pháp lý và cũng đã có từ khá lâu. Đầu năm 2008, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Quyết định 379/QĐ-BNN-KHCN về quy trình VietGAP. Sau đó, tháng 9/2012, Bộ này cũng đã ký ban hành Thông tư số 48/2012/TT-BNNPTNT quy định về chứng nhận sản phẩm thủy sản, trồng trọt, chăn nuôi được sản xuất, sơ chế phù hợp với quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt. Đến năm 2017, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 11892-1:2017 VietGAP do Cục Trồng trọt biên soạn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị và Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thẩm định.
Trên thực tế, theo quy định của pháp luật hiện hành thì Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) là một trong những cơ quan chỉ định và giám sát hoạt động tổ chức chứng nhận VietGAP trong lĩnh vực trồng trọt. Ngoài ra, các cơ quan có thẩm quyền được cấp phép cho các đơn vị đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận là Bộ Khoa học -và Công nghệ và Cục Quản lý chất lượng. Theo đó, hiện nay đã có 12 đơn vị có đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận VietGAP. Ngoài ra, còn trên 30 đơn vị do Bộ Khoa học - Công nghệ hoặc Cục Quản lý chất lượng cấp. Do đó, số cơ sở trồng trọt áp dụng các tiêu chuẩn VietGAP, VietGAHP và tương đương tăng nhanh. Thống kê từ năm 2008, khi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công bố tiêu chuẩn VietGAP đến cuối năm 2015, tổng diện tích trồng rau VietGAP chỉ khoảng 3.200 héc ta, tương đương 0,4% diện tích trồng rau của cả nước. Đến cuối năm 2017 có 1.406 cơ sở trồng trọt được chứng nhận VietGAP với diện tích khoảng hơn 18.200 héc ta, trong đó diện tích rau VietGAP chỉ tăng nhẹ lên 3.443 héc ta. Đặc biệt, trong vài năm gần đây, diện tích được chứng nhận VietGAP trong trồng trọt tăng mạnh. Đến hết năm 2018 đã có gần 1.900 cơ sở trồng trọt có giấy chứng nhận VietGAP với diện tích 81.500 héc ta. Theo báo cáo được Cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến giữa năm 2022, cả nước đã có 463.000 héc ta cây trồng được chứng nhận VietGAP và tương đương, còn số đơn vị được cấp chứng nhận VietGAP là 6.211 cơ sở. Điều này cũng đã phần nào gây khó khăn cho công tác quản lý của cơ quan chức năng cũng như việc kiểm định chất lượng rau củ của các nhà phân phối, bán lẻ.
Nhiều hệ thống bán lẻ, nhà sản xuất chân chính bị “vạ lây” vì những hành vi gian lận.
Nhiều hệ thống bán lẻ, nhà sản xuất chân chính bị “vạ lây”
Trước tình trạng rất nhiều các đơn vị được cấp giấy chứng nhận VietGAP và tương đương, cùng với việc ký kết hợp đồng mua bán “vô tội vạ” của các đơn vị này với các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khác khiến việc kiểm soát chất lượng đầu vào hàng hóa tại các hệ thống bán lẻ, siêu thị trở nên khó khăn hơn bao giờ hết. Tại cuộc họp khẩn trao đổi về công tác quản lý chất lượng nông thủy sản do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức mới đây, bà Vũ Thị Hậu - Chủ tịch Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam nhận định, việc các doanh nghiệp núp bóng VietGAP, dán nhãn không chuẩn xác, gian lận nguồn gốc hàng hóa,… ảnh hưởng rất lớn đến các hệ thống bán lẻ và các nhà sản xuất chân chính.
Tuy nhiên, theo Chủ tịch Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam đây là chuyện sớm muộn sẽ xảy ra bởi sự lỏng lẻo trong khâu quản lý, giám sát. Từ góc độ nhà bán lẻ, bà Hậu cho biết, khi ký hợp đồng với một nhà sản xuất, siêu thị phải kiểm tra kiểm soát chặt chẽ, trước hết về mặt giấy tờ. Nếu siêu thị nào làm theo quy chuẩn thì họ sẽ đề ra tiêu chuẩn kèm theo kiểm tra, giám sát ở cơ sở sản xuất. “Chúng tôi rất hạn chế mua của nhà cung cấp trung gian, bởi sẽ không quản lý được đầu vào. Vì lo sợ điều này mà tôi đã đi gần như toàn bộ 63 tỉnh thành để có đầu vào chuẩn chỉ cho hệ thống bán lẻ của mình”, bà Hậu chia sẻ.
Góp ý với các cơ quan quản lý để giải quyết tình trạng này, đại diện Hiệp hội các Nhà bán lẻ Việt Nam kiến nghị cần tìm biện pháp để kiểm tra, kiểm soát trên quy mô rộng hơn, có sự kiểm tra chéo, cùng với đó là nâng cao vai trò của các địa phương trong quản lý chất lượng nông sản trên địa bàn. Ngoài ra, đề nghị cơ quan quản lí nhà nước tăng cường kiểm soát, có chế tài xử lý, xử phạt nghiêm minh, để không bị ảnh hưởng tới các cơ sở sản xuất làm ăn chân chính.
Đồng quan điểm về vấn đề này, ông Nguyễn Anh Đức - Tổng giám đốc Liên hiệp Hợp tác xã thương mại Tp.Hồ Chí Minh (Saigon Co.op), Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp Hội các nhà bán lẻ Việt Nam cũng tỏ ra bức xúc trước những ảnh hưởng của các hành vi gian lận này tới thương hiệu của rau củ quả Việt Nam, tới các hệ thống bán lẻ nói chung cũng như Saigon Co.op nói riêng. Theo ông Đức, các đơn vị đều mong muốn thu mua trực tiếp nhưng không làm được do tính chất, quy mô sản xuất hiện nay còn nhỏ lẻ, không đủ lượng hàng thường xuyên. Các thủ tục, chính sách thu mua trực tiếp còn khó khăn, không có hoá đơn đầu vào - đầu ra, vì vậy mới phát sinh ra những đơn vị trung gian. Từ những khó khăn trên, ông Đức cho rằng cần có thông tư chung tháo gỡ những vướng mắc trong khâu cung ứng từ nông trại đến bàn ăn. Tháo gỡ thủ tục hành chính, có thể thử nghiệm trong một thời gian. Ngoài ra, nếu có sự lưu thông giữa các vùng sản xuất, mỗi vùng xây dựng quy hoạch, vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc thì sẽ không có tình trạng rau nơi này nơi kia đội lốt rau Đà Lạt. “Hiện nay hàng nông sản trong nước truy xuất nguồn gốc rất hạn chế, cần có cơ chế chính sách làm sao để nông sản dễ dàng truy xuất nguồn gốc đảm bảo nâng cao chất lượng sản phẩm”, ông Đức kiến nghị.
Kiểm soát chất lượng nông sản ngay từ nơi sản xuất chắc chắn là giải pháp hữu hiệu nhất để tăng cường chất lượng phục vụ, thực phẩm đến nay người tiêu dùng.
Giải pháp nào để quản lý chất lượng nông sản VietGAP từ cơ sở sản xuất?
Để bảo đảm chất lượng đầu vào cho các cơ sở bán lẻ, bảo đảm sản phẩm đến tay người tiêu dùng là nông sản sạch thì chắc chắn cần sự chung tay vào cuộc của các ngành chức năng, của các doanh nghiệp phân phối trung gian, doanh nghiệp bán lẻ. Và chắc chắn sẽ là một thiếu sót lớn nếu không nhắc đến trách nhiệm và sự đồng lòng từ tâm của chính các nhà sản xuất, các đơn vị được chứng nhận cơ sở đủ điều kiện theo tiêu chuẩn VietGAP và tương đương. Theo thống kê, hiện nay siêu thị hiện mới chỉ phục vụ 15% nhu cầu thực phẩm tươi sống của người dân, nguồn cung chủ yếu vẫn từ các chợ đầu mối, chợ dân sinh. Do đó, tăng cường chất lượng phục vụ, thực phẩm đến nay người tiêu dùng đảm bảo vệ sinh thì kiểm soát chất lượng ngay từ nơi sản xuất chắc chắn là giải pháp hữu hiệu nhất.
Đánh giá về việc thực hiện quy chuẩn VietGAP, theo bà Hạ Thúy Hạnh - Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông quốc gia (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho biết, hiện nay các bộ quy chuẩn, tiêu chuẩn của việc cấp giấy chứng nhận VietGAP đã được xây dựng rất đầy đủ, rõ ràng và cũng đã được ban hành thời gian tương đối lâu để đảm bảo toàn bộ các cơ quan quản lý, cấp phép và những cơ sở sản xuất đều nắm bắt, áp dụng một cách thuần thục. Trong những năm đầu khi bộ tiêu chuẩn được xây dựng thì người nông dân rất tích cực tham gia, xin cấp giấy chứng nhận. Tuy nhiên, sau này khi triển khai áp dụng, để được cấp giấy chứng nhận thì cơ sở sản xuất phảm bảo đảm rất nhiều thủ tục, yêu cầu khắt khe được đề ra như việc ghi chép lịch sử và đánh giá, khảo sát các cơ sở sản xuất,… Điều này đã khiến việc triển khai gặp nhiều khó khăn hơn. Đối với tiêu chuẩn VietGAP hiện nay, để đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận, cơ sở sản xuất phải bảo đảm tiêu chí về công tác đầu vào của nguồn giống, sau đó là quy trình nuôi trồng, ghi chép nuôi trồng và đảm bảo việc truy xuất nguồn gốc. Cùng với đó, là việc cần phải chuẩn bị một lượng kinh phí đủ để phục vụ cho việc cấp giấy chứng nhận như các chi phí về xét nghiệm, kiểm nghiệm mẫu sản xuất, chỉ số về môi trường, chỉ số chăn nuôi… Điều này đã khiến một số hộ dân sản xuất nhỏ lẻ ít mặn mà hơn, các cơ sở có nhu cầu xin cấp chủ yếu nằm ở các cơ sở sản xuất quy mô, có nhu cầu để cấp hàng vào các siêu thị.
Cùng với đó, đối với chứng nhận VietGAP hiện nay là giấy chứng nhận có thời hạn, thường có hiệu lực trong 24 tháng. Ngoài ra, trong thời gian này, hàng năm các tổ chức quản lý vẫn có sự theo dõi và đánh giá lại các tiêu chí của cơ sở sản xuất, do đó chi phí vận hành cũng không hề nhỏ. Những yếu tố trên đã khiến việc triển khai cấp giấy chứng nhận VietGAP cho các hộ dân gặp thêm những khó khăn. Vì vậy, để tăng cường kiểm soát chất lượng hàng hóa từ nơi sản xuất, hướng tới việc toàn bộ sản phẩm cung cấp ra thị trường đều có thể truy xuất nguồn gốc, Trung tâm Khuyến nông quốc gia đã có nhiều dự án hỗ trợ về kỹ thuật và kinh phí để các nông hộ có thể tiếp cận dễ dàng hơn với giấy chứng nhận VietGAP.
Chia sẻ về những giải pháp để nâng cao chất lượng nông sản ngay từ nơi sản xuất trong thời gian tới, bà Hà Thúy Hạnh cho biết, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng như Trung tâm sẽ có những chương trình nhắm khuyến khích các đơn vị đánh giá độc lập phát triển hình thức đánh giá online nhằm rút ngắn thời gian đánh giá, công sức cũng như chi phí cho các hộ dân. Cùng với đó, thực hiện đánh giá qua hình thức online cũng sẽ giúp việc theo dõi thông tin cơ sở sản xuất được liên tục, tránh tình trạng gian lận nguồn gốc sản phẩm. Ngoài ra, thời gian tới cũng nên xây dựng các quy định pháp luật về việc tích hợp các giấy chứng nhận đối với một cơ sở sản xuất. Đơn cử như việc tích hợp các giấy chứng nhận như cơ sở đủ điều kiện sản xuất chăn nuôi, chứng nhận VietGAP, chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn dịch bệnh,… thành một mẫu giấy chứng nhận dùng chung để các đơn vị sản xuất thuận lợi hơn trong các thủ tục hành chính, thông tin truy xuất. Cùng với đó, hỗ trợ các hộ dân xây dựng liên kết thành các vùng sản xuất, xây dựng các nhóm ngành hàng, các nhóm sản phẩm OCOP để việc quản lý chất lượng hiệu quả hơn, truy xuất nguồn gốc sẽ dàng hơn.
Quan trọng hơn cả, bà Hạ Thúy Hạnh cho rằng, để kiểm soát chất lượng ngay từ nơi sản xuất chắc chắn việc cần làm nhất hiện nay là nâng cao ý thức, nhận thức của các cơ sở sản xuất. Để thực hiện được nhiệm vụ này, sẽ có nhiều chương trình khuyến nông trung ương được triển khai diện rộng trên toàn quốc. Ngoài ra, cũng sẽ có nhiều dự án khuyến nông của các địa phương để thực hiện vừa đào tạo vừa tuyên truyền nâng cao ý thức của các cơ sở sản xuất. Trong đó, sẽ có các nội dung cụ thể về đào tạo, tập huấn hay hỗ trợ vật tư để nâng cao tay nghề, nâng cao nhận thức của các nông hộ. Cùng với đó, Trung tâm Khuyến nông quốc gia cũng như Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ có những bộ tài liệu về an toàn sinh học kết hợp với tiêu chuẩn VietGAP được in ấn và phát hành miễn phí tới các địa phương để các nông hộ có thể tiếp cận. Ngoài ra, cũng sẽ thường xuyên có những tọa đàm về kỹ thuật cũng như là các diễn đàn về an toàn nông nghiệp được tổ chức để thông tin đến bà con nông dân, thay đổi nhận thức của các cơ sở sản xuất về nâng cao chất lượng nông sản, đảm bảo các quy chuẩn quy định, hướng tới các tiêu chuẩn chứng nhận VietGAP.
Hồng Quang