EVN và các đơn vị liên quan có vi phạm trong vận hành hồ chứa thuỷ điện chưa sát thực tế thủy văn. Vi phạm trong chỉ đạo, điều hành, lập lịch, điều độ vận hành hệ thống điện quốc gia mùa khô năm 2023.
Chậm trễ trong huy động các nguồn, triển khai giải pháp khẩn cấp
Mới đây, Bộ Công Thương đã công bố kết luận thanh tra việc cung ứng điện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và các đơn vị liên quan. Kết luận thanh tra đã chỉ ra các tồn tại, hạn chế trong công tác chỉ đạo, điều hành cung cấp điện giai đoạn 2021-2023 của EVN và các đơn vị có liên quan.
Theo đó, việc EVN chỉ đạo định hướng hạ mực nước các hồ thuỷ điện cuối năm 2022 và huy động đầu năm 2023 (thủy điện chiếm khoảng 29% cơ cấu nguồn), đã gây ảnh hưởng tới điều tiết nước cho phát điện mùa khô 2023. Việc vận hành này được đánh giá chưa sát thực tế thủy văn khi dự báo lưu lượng nước về giảm 20-40% so với trung bình nhiều năm.
Cụ thể, từ tháng 7/2022, các đơn vị của EVN vẫn tăng cường khai thác nước phục vụ phát điện của các nhà máy thủy điện lớn khu vực phía Bắc. Bao gồm 8 hồ chứa thủy điện là Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Bản Chát, Tuyên Quang, Thác Bà (thuộc lưu vực sông Hồng); Trung Sơn (thuộc lưu vực sông Mã); Bản Vẽ (thuộc lưu vực sông Cả).
Điều này làm giảm mực nước các hồ so với Kế hoạch vận hành hệ thống điện năm 2022 mặc dù đã được dự báo và quan trắc về số liệu thủy văn về lưu lượng nước về chỉ đạt 60-80% so với trung bình nhiều năm.
Theo kết luận thanh tra, việc vận hành thuỷ điện của EVN có nhiều bất cập.
Việc huy động vận hành các hồ chứa thủy điện nêu trên làm giảm mực nước các hồ chứa so với kế hoạch năm và thấp hơn đáng kể so với mực nước dâng bình thường, ảnh hưởng đến việc điều tiết chuẩn bị nước cho phát điện mùa khô năm 2023 và dẫn đến công tác vận hành chưa sát thực tế thủy văn, chưa chủ động trong các kịch bản ứng phó, đảm bảo cung cấp điện.
Trong các tháng 3, 4, 5 năm 2023 các nhà máy thủy điện vẫn được huy động cao, dẫn đến giảm mực nước các hồ thủy điện.
Báo cáo của Trung tâm Điều độ hệ thống điện quốc gia (A0) cho thấy, đến cuối 2022, sản lượng huy động từ nguồn này đạt gần 13 tỷ kWh, giảm 2,1 tỷ kWh so với mức nước dâng bình thường và thấp hơn 1,5 tỷ kWh kế hoạch 2022. Trong đó, miền Bắc thiếu 1,26 tỷ kWh.
Hồi tháng 3, sản lượng các hồ thấp hơn 563 triệu kWh so với kế hoạch năm. Con số thiếu hụt tăng lên 765 triệu kWh vào tháng 4 do nước về giảm mạnh. Tuy nhiên, các nhà máy thủy điện vẫn được huy động cao từ tháng 3 đến tháng 5, dẫn tới hầu hết hồ miền Bắc, một số hồ miền Trung và Nam không đảm bảo mực nước theo kế hoạch.
Kết luận thanh tra cũng cho thấy, vào thời điểm miền Trung và Nam bước vào cao điểm nắng nóng, việc không huy động các nguồn điện than lớn miền Nam (Duyên Hải 2, Duyên Hải 3 và 3 mở rộng) trong thời gian đầu tháng 4 khi các diễn biến vận hành hệ thống điện biến động nhanh, dẫn tới các nhà máy thủy điện chiến lược đa mục tiêu phía Bắc phải khai thác bổ sung.
Sản lượng phát của nhà máy thủy điện Sơn La (công suất 2.400 MW) trung bình trong nửa đầu tháng 4 gần 28,4 triệu kWh, ngày cao nhất xấp xỉ 42 triệu kWh. Nhà máy này tiếp tục được huy động trong trung tuần tháng 7, bình quân hơn 37 triệu kWh một ngày, khiến nước hồ giảm nhanh, tới 28/4 là 188 m, cách mực nước chết (ngưỡng phát an toàn) 13 m.
Tính chung, đến hết tháng 3, điện thiếu hụt từ thủy điện là 462 triệu kWh so với kế hoạch năm, và con số này tăng lên hơn 1,63 tỷ kWh vào cuối tháng 4. Riêng miền Bắc thiếu 576 triệu kWh so với kế hoạch. Nhiều thời điểm vận hành trong tháng 5 và 6, tổng công suất có khả năng huy động của hệ thống miền Bắc chỉ hơn 17.000 MW, không đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng, dẫn tới phải cắt điện ở các địa phương.
“EVN chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm trong lập kế hoạch, phương án đảm bảo cung cấp điện mùa khô 2023. A0 chưa tuân thủ đầy đủ quy định về lập lịch, huy động, điều tiết các nguồn điện. Việc A0 chậm trễ trong ra lệnh điều độ, huy động nguồn điện, triển khai các giải pháp khẩn cấp trong điều kiện diễn biến phụ tải, thủy văn thay đổi nhanh, gây ảnh hưởng cung ứng điện cho miền Bắc" - kết luận thanh tra nêu rõ.
Nhiều nhà máy nhiệt điện thiếu than cục bộ
Cũng theo kết luận thanh tra, tổng sản lượng nguồn nhiệt điện than thực hiện năm 2021-2022 đạt thấp hơn so với Kế hoạch cung cấp điện và vận hành hệ thống điện quốc gia được Bộ Công Thương phê duyệt.
Trong 5 tháng đầu năm, TKV và Tổng công ty Đông Bắc cơ bản cung cấp đủ khối lượng than cam kết tại Hợp đồng mua bán than năm 2023 đã ký, dự kiến cả năm 2023 cấp đạt và vượt khối lượng than đã cam kết tại Hợp đồng năm 2023. Tuy nhiên, xuất hiện tình trạng thiếu than cục bộ ở một số nhà máy nhiệt điện (NMNĐ) tại thời điểm đầu năm và kéo dài đến tháng 5.
Các tồn tại, hạn chế trong công tác chỉ đạo, điều hành cung cấp điện giai đoạn 2021-2023 của EVN và các đơn vị có liên quan khiến Miền Bắc thiếu điện trong đợt nắng nóng đỉnh điểm vừa qua.
EVN có Công văn số 5188/EVN-KTSX ngày 31/7/2020 về định mức than tồn kho cho các NMNĐ. Tuy nhiên, kết quả thống kê than tồn kho theo tháng cho thấy, than tồn kho năm 2022 và các tháng đầu năm 2023 của nhiều NMNĐ (trong đó có các NMNĐ EVN và các GENCO) thấp hơn so với định mức. Đặc biệt một số NMNĐ duy trì mức tồn kho thấp kéo dài hoặc thấp đến mức báo động phải dừng tổ máy.
Đoàn thanh tra Bộ Công Thương kết luận: “Như vậy, các chủ đầu tư NMNĐ chưa chấp hành nghiêm quy định của EVN về định mức than tồn kho, ảnh hưởng đến việc đảm bảo dự phòng để vận hành nhà máy ổn định, an toàn, thể hiện ở việc không đủ than cho sản xuất điện tại một số thời điểm năm 2022 và một số tháng đầu năm 2023”.
Thanh tra Bộ Công Thương xác định trách nhiệm này thuộc về Cục Điều tiết điện lực, Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo; Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường công nghiệp và Vụ Dầu khí, than.
Để khắc phục những tồn tại này, ngoài kiểm điểm, xử lý trách nhiệm tổ chức, cá nhân liên quan, thanh tra đề nghị EVN đánh giá nghiêm túc hạn chế trong xây dựng kế hoạch, phương thức vận hành hệ thống điện quốc gia và kịch bản kiểm soát, ứng phó khó khăn về cung ứng điện.
Các kịch bản cần có tính dự phòng cao, đảm bảo ứng phó tình huống cực đoan, sự cố, khó khăn xếp chồng, nhất là mùa khô hằng năm. EVN cũng cần nâng cao hiệu quả dự báo nguồn khả dụng, phụ tải.
Các đơn vị cấp than cho điện như TKV, Tổng công ty Đông Bắc đảm bảo cung cấp đúng, đủ khối lượng, chủng loại than theo hợp đồng. PVN tìm kiếm giải pháp tối ưu để gia tăng sản lượng khí, sửa chữa các công trình, đảm bảo không bị gián đoạn hoặc ngừng sản xuất, cấp khí cho điện.
Các cục, vụ được đề nghị hoàn thiện quy định pháp luật về điện lực, như sửa đổi Luật Điện lực, nghị định, thông tư liên quan tới đảm bảo cung ứng điện; cơ chế với các dự án đầu tư chậm tiến độ…
Đinh Hiệu