15:11 24/08/2025

Nguy cơ bất ổn tài chính từ làn sóng nợ xấu phình to

Nợ xấu của các ngân hàng đã tăng so với đầu năm, vượt mức 294.000 tỷ đồng, trở thành dấu hiệu đáng lo ngại cho nền kinh tế. Trước thực trạng này, cần đồng thời triển khai các biện pháp điều tiết và kiểm soát dòng vốn tín dụng, đẩy nhanh xử lý nợ xấu, song song với việc tái cơ cấu những ngân hàng yếu kém nhằm củng cố và phát triển hệ thống tài chính theo hướng an toàn, bền vững.

Liên tục rao bán nợ xấu trăm tỷ

VietinBank Gia Lai mới đây thông báo đấu giá khoản nợ của Công ty TNHH Đức Long Dung Quất, doanh nghiệp thuộc hệ sinh thái Tập đoàn Đức Long Gia Lai. Đây là toàn bộ dư nợ phát sinh từ hợp đồng tín dụng ký năm 2016, bao gồm cả gốc, lãi và lãi quá hạn.

Tính đến ngày 19/5/2025, tổng dư nợ đã vượt 434,6 tỷ đồng, trong đó nợ gốc là 277,6 tỷ và nợ lãi hơn 157 tỷ đồng. Ngân hàng đưa ra mức giá khởi điểm gần 279,5 tỷ đồng, tương đương giá trị khoản nợ gốc.

Không chỉ VietinBank, BIDV cũng vừa thông báo đấu giá khoản nợ trăm tỷ đồng của Công ty CP Kinh doanh Cảng Hạ Long và Công ty CP Logistic Đông Nam Á tại Quảng Ninh.

Tính đến ngày 14/7/2025, tổng dư nợ của hai doanh nghiệp này là 173 tỷ đồng, trong đó Cảng Hạ Long nợ hơn 96 tỷ, Logistic Đông Nam Á gần 76,9 tỷ đồng, gồm cả gốc, lãi và lãi phạt quá hạn. Giá khởi điểm cho gói nợ này được BIDV đưa ra gần 155,7 tỷ đồng và không tách riêng từng khoản nợ.

Thực tế cho thấy áp lực nợ xấu trong hệ thống ngân hàng ngày càng lớn. Đến cuối tháng 6/2025, tổng nợ xấu của 28 ngân hàng đã lên tới 294.215 tỷ đồng, tăng hơn 12% so với đầu năm. Phần lớn mức tăng đến từ nhóm nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3) và nhóm có khả năng mất vốn (nhóm 5).

Trong đó, VPBank ghi nhận nợ xấu 32.945 tỷ đồng, tăng 13,3% so với đầu năm; SHB cũng tăng thêm gần 1.580 tỷ đồng. Ở nhóm ngân hàng quy mô nhỏ hơn, PGBank và Nam A Bank chứng kiến mức tăng rất mạnh, lần lượt 42,5% và 40%.

Theo dữ liệu từ Wichart, chỉ trong 6 tháng đầu năm 2025, số dư nợ xấu của toàn ngành (nhóm 3 đến nhóm 5) đã tăng hơn 16% so với cuối năm 2024, đạt kỷ lục 267.329 tỷ đồng. Trong khi đó, số dư dự phòng rủi ro chỉ đạt 213.393 tỷ đồng, tăng 3,2%.

Trước đó, cuối tháng 7/2024, tỷ lệ nợ xấu nội bảng (bao gồm cả các ngân hàng mua lại bắt buộc và ngân hàng được kiểm soát đặc biệt) ở mức 4,75%, cao hơn mức 4,55% cuối năm 2023 và gấp hơn hai lần so với 2% cuối năm 2022.

Dù Ngân hàng Nhà nước ghi nhận tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống có phần giảm nhẹ so với năm ngoái, nhưng thực tế con số này vẫn duy trì ở mức cao, tập trung tại một số ngân hàng yếu kém và tiếp tục gây sức ép lớn lên toàn bộ hệ thống.

Nguy cơ bất ổn tài chính từ làn sóng nợ xấu phình to
Nợ xấu của các ngân hàng đã tăng so với đầu năm, vượt mức 294.000 tỷ đồng, trở thành dấu hiệu đáng lo ngại cho nền kinh tế.

Cần luật hóa mạnh tay để gỡ nút thắt

Nợ xấu vẫn đang là “điểm nghẽn” lớn của hệ thống ngân hàng. Mặc dù được cảnh báo và theo dõi sát sao, nhưng thực tế cho thấy việc xử lý nợ xấu vẫn vô cùng gian nan.

Các ngân hàng thương mại, công ty quản lý nợ và chính Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam đều chỉ ra rằng, một số quy định quan trọng trong Nghị quyết số 42 chưa được luật hóa trong Luật Các tổ chức tín dụng, tạo ra khoảng trống pháp lý. Hệ quả là quá trình xử lý tài sản bảo đảm, vốn được xem là chìa khóa để thu hồi nợ, rơi vào tình trạng “chững nhịp”, khiến các ngân hàng vừa mất thời gian, vừa mất cơ hội thu hồi vốn.

Nhiều tổ chức tín dụng đã phản ánh những bất cập cụ thể: quyền thu giữ tài sản bảo đảm chưa đủ sức mạnh pháp lý, việc kê biên tài sản trong thi hành án còn vướng mắc, và đặc biệt là sự thiếu thống nhất trong quy định hoàn trả tài sản bảo đảm khi đó là tang vật trong các vụ án hình sự hay hành chính.

Đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà là “nút thắt” đang bóp nghẹt tiến trình xử lý nợ xấu toàn hệ thống. Vì vậy, ngành ngân hàng kiến nghị khẩn trương luật hóa đầy đủ ba trụ cột: quyền thu giữ, quyền kê biên và cơ chế hoàn trả tài sản, coi đó là điều kiện tiên quyết để nâng hiệu quả xử lý nợ xấu lên một nấc thang mới.

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Hữu Huân cảnh báo, đằng sau con số tín dụng giải ngân cao là một thực tế đáng lo ngại: nợ xấu phình to. Nhiều ngân hàng đã chạm ngưỡng trên 3% - mốc cảnh báo an toàn hệ thống.

Nguyên nhân không chỉ đến từ sự hết hiệu lực của Thông tư 02/2023 – vốn cho phép cơ cấu lại nợ và giữ nguyên nhóm nợ để hỗ trợ khách hàng, mà còn phản ánh sức khỏe yếu ớt của khu vực sản xuất – kinh doanh.

Khi lớp “áo giáp” chính sách tạm thời bị gỡ bỏ, bản chất của các khoản vay bộc lộ rõ rệt, và bức tranh nợ xấu trở nên nặng nề hơn. Cùng với đó, sự phục hồi không đồng đều của thị trường bất động sản khiến nhiều khoản vay trong lĩnh vực này nhanh chóng biến thành “cục máu đông” tài chính.

Theo ông Huân, nợ xấu không chỉ là vấn đề riêng của ngành ngân hàng mà còn là rủi ro vĩ mô, đe dọa dòng chảy vốn trong nền kinh tế. Ông nhấn mạnh, phải thực hiện đồng thời cả ba nhóm giải pháp: điều tiết và kiểm soát tín dụng chặt chẽ, đẩy nhanh xử lý nợ xấu hiện hữu, và tái cơ cấu triệt để những ngân hàng yếu kém để củng cố hệ thống.

“Nếu không làm mạnh tay, nguy cơ mất an toàn tài chính sẽ không còn nằm trên lý thuyết, mà sẽ hiện hữu trong từng bảng cân đối của ngân hàng”, ông nhấn mạnh.

Ở chiều chính sách, Ngân hàng Nhà nước khẳng định vẫn đang kiên quyết triển khai Đề án cơ cấu lại hệ thống gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021-2025. Trọng tâm trong thời gian tới là song song với xử lý nợ xấu tồn đọng, phải ngăn chặn nợ xấu mới phát sinh, nhất là trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp còn yếu ớt, chưa thể phục hồi vững vàng.

Nợ xấu chính là “thước đo sức khỏe” thực sự của hệ thống tài chính. Nếu không quyết liệt tháo gỡ về mặt pháp lý và nâng cao năng lực quản trị rủi ro, nguy cơ nợ xấu trở thành “bóng đen” kìm hãm tăng trưởng kinh tế là điều khó tránh khỏi.

Quang Anh