8 tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập khẩu 10,37 triệu tấn sắt thép, trị giá 7,7 tỷ USD, tăng 3,16% về lượng và 7,52% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Trung Quốc tiếp tục là thị trường cung cấp lớn nhất, nhưng tỷ trọng trong tổng lượng nhập khẩu giảm từ 58,28% xuống 50,57%, trong khi lượng thép nhập khẩu từ ASEAN tăng hơn 25%.
Nhập khẩu sắt thép từ ASEAN tăng hơn 25%, Nhật Bản giảm nhập khẩu
Trong tháng 8/2026, Việt Nam nhập khẩu 1,36 triệu tấn sắt thép, trị giá 1,02 tỷ USD, giảm 0,76% về lượng và 4,95% về trị giá so với tháng 7/2026. So với tháng 8/2025, lượng nhập khẩu tăng 0,6%, trong khi trị giá tăng 7,55%.
Tính chung 8 tháng năm 2026, lượng sắt thép nhập khẩu đạt 10,37 triệu tấn, trị giá 7,7 tỷ USD, tăng lần lượt 3,16% và 7,52% so với cùng kỳ năm 2025. Giá sắt thép nhập khẩu bình quân đạt 743 USD/tấn, tăng 4,22% so với cùng kỳ.
Trung Quốc tiếp tục là thị trường nhập khẩu sắt thép lớn nhất của Việt Nam trong 8 tháng. Việt Nam nhập khẩu từ thị trường này 5,25 triệu tấn, trị giá 3,61 tỷ USD, giảm 10,49% về lượng và 2,66% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Giá sắt thép nhập khẩu bình quân từ Trung Quốc đạt 687 USD/tấn, tăng 8,75%.
Tỷ trọng nhập khẩu sắt thép từ Trung Quốc trong tổng lượng nhập khẩu của Việt Nam vì vậy giảm từ 58,28% trong 8 tháng năm 2025 xuống còn 50,57% trong 8 tháng năm 2026.
Một số thị trường nhập khẩu thép vào Việt Nam 8 tháng năm 2026.
Nhật Bản là thị trường cung cấp sắt thép lớn thứ hai của Việt Nam trong 8 tháng năm 2026, chiếm 12,14% về lượng và 11,47% về trị giá tổng nhập khẩu sắt thép. Việt Nam nhập khẩu từ Nhật Bản 1,26 triệu tấn, trị giá 883,81 triệu USD, giảm 18,19% về lượng và 11,71% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Giá nhập khẩu bình quân đạt 702 USD/tấn, tăng 7,92%.
Trong khi đó, nhập khẩu sắt thép từ ASEAN tăng đáng kể. Trong 8 tháng, Việt Nam nhập khẩu từ khu vực này 1,17 triệu tấn, trị giá 1,38 tỷ USD, tăng 25,77% về lượng và 25,53% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. ASEAN chiếm 11,24% tổng lượng và 17,88% tổng trị giá nhập khẩu sắt thép của Việt Nam.
Giá sắt thép nhập khẩu bình quân từ ASEAN đạt 1.181 USD/tấn, cao hơn 59,03% so với mức bình quân chung 743 USD/tấn. Theo VITIC, cơ cấu nhập khẩu từ khu vực này chủ yếu tập trung vào các chủng loại thép có giá trị gia tăng và giá bán cao hơn, trong đó có những sản phẩm có yêu cầu tương đối cao về chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc Việt Nam chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu trong nước.
Cùng với ASEAN, nhập khẩu sắt thép từ EU cũng tăng mạnh về lượng dù quy mô còn nhỏ. Trong 8 tháng năm 2026, Việt Nam nhập khẩu 41,4 nghìn tấn từ EU, trị giá 62,86 triệu USD, tăng 158,7% về lượng và 22,87% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Giá sắt thép nhập khẩu bình quân từ EU đạt 1.518 USD/tấn, cao hơn 2 lần mức bình quân chung của thị trường. Theo VITIC, sắt thép nhập khẩu từ EU chủ yếu tập trung vào các sản phẩm thép chất lượng cao, thép chuyên dụng hoặc những chủng loại có yêu cầu cao về công nghệ và tiêu chuẩn kỹ thuật mà năng lực sản xuất trong nước chưa đáp ứng đầy đủ. Với quy mô hiện tại, nhập khẩu sắt thép từ EU chưa tạo ảnh hưởng đáng kể đến tổng cung thép trên thị trường Việt Nam mà chủ yếu có vai trò bổ sung đối với một số phân khúc sản phẩm có giá trị gia tăng và yêu cầu kỹ thuật cao.
Một số thị trường như Australia, Nam Phi, Hoa Kỳ và Canada cũng có biến động so với cùng kỳ năm 2025, song quy mô còn nhỏ và mang tính bổ sung nguồn cung đối với một số chủng loại chuyên biệt.
Giá thép trong nước ổn định
Trên thị trường trong nước, giá thép xây dựng được các doanh nghiệp công bố ở các mức khác nhau. Hòa Phát báo giá thép CB240 ở mức 14.920 đồng/kg và D10 CB300 ở mức 14.210 đồng/kg; thép Việt Ý Miền Bắc lần lượt ở mức 14.750 đồng/kg và 13.940 đồng/kg.
Pomina và VJS Miền Bắc cùng báo giá CB240 ở mức 14.850 đồng/kg, trong khi thép Kyoei và VAS Miền Trung cùng chào giá 15.050 đồng/kg.
Trên thị trường hàng hóa, giá thép thanh kỳ hạn tháng 10/2026 trên Sàn Giao dịch Thượng Hải (SHFE) giảm 8 nhân dân tệ, tương đương 0,26%, xuống 3.042 nhân dân tệ/tấn. Giá quặng sắt kỳ hạn tháng 10/2026 trên Sàn Giao dịch Đại Liên (DCE) giảm 3,5 nhân dân tệ, tương đương 0,49%, xuống 713,5 nhân dân tệ/tấn.
Trong khi đó, OECD cảnh báo công suất thép dư thừa toàn cầu được dự báo tăng từ 601 triệu tấn trong năm 2024 lên 721 triệu tấn vào năm 2027. Theo tổ chức này, ngành thép thế giới đang đối mặt đồng thời với tình trạng dư thừa công suất và yêu cầu chuẩn bị cho quá trình chuyển đổi sang tương lai phát thải thấp.
Ở một diễn biến khác, số liệu của Hiệp hội Thép Thế giới (Worldsteel) cho thấy sản lượng gang toàn cầu trong 8 tháng đầu năm 2026 giảm 2,2% so với cùng kỳ năm trước, xuống 913 triệu tấn. Trong đó, sản lượng gang theo phương pháp hoàn nguyên trực tiếp đạt 81 triệu tấn, còn phương pháp lò cao đạt 832 triệu tấn.
Trung Quốc tiếp tục là nước sản xuất gang lớn nhất với 563 triệu tấn, giảm 3,1% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp theo là Ấn Độ với 106 triệu tấn, tăng 4%; Nhật Bản 39 triệu tấn, không đổi; Nga 38 triệu tấn, giảm 5%; và Hàn Quốc 29 triệu tấn, tăng 1,5%.
Trung Anh