Gần nửa triệu tấn thịt và sản phẩm từ thịt được nhập khẩu vào Việt Nam chỉ trong nửa đầu năm 2026. Khi còn nguyên thùng, xuất xứ của sản phẩm tương đối rõ ràng. Tuy nhiên, sau nhiều lần sang kho, chia nhỏ, rã đông hoặc chế biến thành món ăn, xúc xích, chả, thịt sấy, thông tin về nguồn nguyên liệu có thể dần biến mất.
Thịt đã mất nhãn gốc?
Sáu tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập khẩu khoảng 494.300 tấn thịt và sản phẩm từ thịt, trị giá gần 1,46 tỷ USD, tăng gần 10% về lượng và 36,4% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.
Ấn Độ tiếp tục là một trong những nguồn cung lớn nhất. Trong nửa đầu năm, hơn 100.000 tấn thịt và sản phẩm từ thịt có xuất xứ từ thị trường này được nhập vào Việt Nam, phần lớn là thịt trâu đông lạnh.
Giá nhập khẩu bình quân thịt trâu Ấn Độ khoảng 2.780 USD/tấn, tương đương hơn 70.000 đồng/kg nếu quy đổi trực tiếp theo tỷ giá. Trên thị trường bán lẻ, tùy phần thịt và quy cách đóng gói, sản phẩm được chào bán khoảng 92.000-160.000 đồng/kg, thấp hơn đáng kể so với nhiều loại thịt trâu, bò tươi trong nước.
Giá rẻ không đồng nghĩa sản phẩm kém chất lượng hoặc mất an toàn. Thịt đông lạnh nhập khẩu là hàng hóa hợp pháp nếu được kiểm dịch, thông quan, bảo quản đúng nhiệt độ và còn hạn sử dụng. Lợi thế giá có thể đến từ quy mô chăn nuôi, chi phí sản xuất và sự khác biệt về nhu cầu tiêu dùng giữa các thị trường.
Vấn đề đáng chú ý không nằm ở việc thịt được nhập khẩu, mà ở cách sản phẩm được lưu thông và cung cấp thông tin sau khi rời container lạnh.
Khi mới vào Việt Nam, thịt thường được đóng trong thùng carton, bên trong là những khối thịt có nhãn thể hiện xuất xứ, cơ sở sản xuất, đơn vị nhập khẩu, ngày sản xuất, hạn sử dụng, số lô và điều kiện bảo quản. Dấu vết có thể mờ đi khi thùng được mở, thịt được chuyển qua kho trung gian rồi chia nhỏ cho nhà hàng, bếp ăn, cửa hàng hoặc cơ sở chế biến.
Việt Nam nhập khẩu thịt trâu Ấn Độ nhiều bậc nhất thế giới
Một khối thịt nhập khẩu có thể được cắt thành hàng chục phần, đóng vào túi hoặc khay xốp để bán lẻ. Theo quy định, nhãn mới vẫn phải thể hiện tên hàng hóa, đơn vị chịu trách nhiệm, xuất xứ, ngày đóng gói lại, hạn sử dụng và điều kiện bảo quản. Hạn sử dụng phải tính từ ngày sản xuất trên nhãn gốc, không được bắt đầu lại từ ngày chia nhỏ.
Việc cắt thịt nhập khẩu thành nhiều khay cũng không làm thay đổi xuất xứ. Thịt có nguồn gốc Brazil, Nga, Ấn Độ, Canada hay quốc gia nào khác vẫn phải được thể hiện đúng trên nhãn mới. Dòng chữ “đóng gói tại Việt Nam” chỉ phản ánh nơi đóng gói, không có nghĩa sản phẩm trở thành thịt Việt Nam.
Tuy nhiên, người tiêu dùng có thể gặp những khay hàng chỉ ghi tên phần thịt, trọng lượng, ngày đóng gói và hạn dùng; hoặc ghi chung chung “thịt nhập khẩu” nhưng không nêu quốc gia xuất xứ. Nếu nhãn gốc, mã lô và hồ sơ không được lưu sau khi chia nhỏ, cơ quan chức năng khó xác định sản phẩm thuộc lô nào và đã đi qua những kho lạnh nào.
Từ ngày 16/4/2026, quy định mới về truy xuất nguồn gốc thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương có hiệu lực, yêu cầu thực hiện theo nguyên tắc “một bước trước - một bước sau”. Mỗi cơ sở phải xác định được đơn vị cung cấp thực phẩm cho mình và khách hàng trực tiếp đã nhận lô hàng; thông tin sau mỗi công đoạn phải được nhận diện, lưu trữ trong suốt quá trình sản xuất, kinh doanh.
Nếu mỗi mắt xích không lưu mã lô, hóa đơn, thời điểm giao nhận và thông tin bên mua, nguyên tắc này sẽ bị đứt ngay từ khâu chia nhỏ. Một khay thịt có thể mang nhãn mới nhưng cơ sở kinh doanh không chứng minh được nó lấy từ thùng hàng nào, do ai nhập khẩu và có được bảo quản đúng nhiệt độ hay không.
Mất dấu xuất xứ sau khi rã đông, chế biến
Rủi ro gây nhầm lẫn cao hơn khi thịt đông lạnh được rã đông rồi bày bán cùng thịt tươi. Sau khi lớp đá tan hết và khối thịt được cắt thành từng miếng, người mua rất khó xác định sản phẩm từng được cấp đông hay chưa. Màu sắc, độ đàn hồi và lượng nước chảy ra chỉ là dấu hiệu tham khảo, không đủ để kết luận chính xác.
Nếu điểm bán không công khai tình trạng sản phẩm, người tiêu dùng có thể trả mức giá của thịt tươi cho thịt đã rã đông. Việc thiếu thông tin còn ảnh hưởng đến cách bảo quản, bởi thịt đã rã đông cần được sử dụng trong thời gian ngắn và không nên tiếp tục cấp đông, rã đông nhiều lần.
Khi thịt được đưa vào nhà hàng, bếp ăn hoặc dây chuyền chế biến, dấu vết về nguồn gốc càng khó nhận biết. Sử dụng thịt đông lạnh nhập khẩu không bị cấm nếu nguyên liệu hợp pháp và bảo đảm an toàn. Vấn đề phát sinh khi món ăn được giới thiệu là “bò tươi”, “trâu bản”, “gà đồi” hoặc “đặc sản địa phương”, trong khi nguyên liệu thực tế là thịt đông lạnh nhập khẩu.
Khoảng chênh lệch giá tạo ra động cơ kinh tế rõ rệt. Một kilôgam thịt nguyên liệu nhập khẩu có thể được mua với giá dưới 100.000 đồng, nhưng sau khi tẩm ướp, sấy khô và gắn với câu chuyện vùng miền, sản phẩm có thể được bán với mức giá cao gấp nhiều lần.
Sản phẩm “thịt trâu sấy khô tê cay” được làm từ thịt trâu đông lạnh nhập khẩu từ Ấn Độ biến thành “thịt trâu sấy đặc sản Tây Bắc”
Vụ án liên quan Hải “Sapa TV” đang được Công an tỉnh Lào Cai điều tra cho thấy nguy cơ thịt nhập khẩu bị thay đổi thông tin khi đi qua khâu chế biến và quảng cáo.
Theo kết quả xác minh ban đầu, sản phẩm “thịt trâu sấy khô tê cay” được làm từ thịt trâu đông lạnh nhập khẩu từ Ấn Độ, sau đó được quảng cáo trên mạng xã hội là “thịt trâu sấy đặc sản Tây Bắc” và in logo Hải Sapa TV để bán ra thị trường. Từ năm 2022 đến năm 2025, Bùi Thị Kim Tuyên được xác định đã mua sản phẩm của Công ty Cổ phần Sản xuất và Thương mại tổng hợp Hoàng Nam với tổng trị giá khoảng 30 tỷ đồng để kinh doanh.
Ngày 24/8/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai khởi tố vụ án, khởi tố Vũ Hoàng Hải và một số cá nhân liên quan để điều tra về các dấu hiệu của tội “Lừa dối khách hàng” và “Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng”.
PGS.TS Nguyễn Duy Thịnh, nguyên giảng viên Viện Công nghệ Sinh học và Thực phẩm, Đại học Bách khoa Hà Nội, cho rằng cần phân biệt rõ chất lượng của thịt nhập khẩu với hành vi cung cấp sai thông tin. Thịt trâu đông lạnh nhập khẩu từ Ấn Độ không mặc nhiên là thịt không an toàn. Tuy nhiên, nếu sử dụng nguyên liệu này nhưng giới thiệu là thịt trâu tươi Tây Bắc thì đó là hành vi gian lận thương mại, khiến người tiêu dùng trả nhiều tiền hơn vì một nguồn gốc không đúng thực tế.
“Điều đáng bàn trong vụ việc là việc thay đổi thông tin về nguồn gốc sản phẩm, khiến người mua hiểu đó là đặc sản được làm từ thịt trâu Tây Bắc”, PGS.TS Nguyễn Duy Thịnh nhận định.
Chuyên gia cũng lưu ý, rất khó xác định thịt tươi hay thịt từng cấp đông chỉ bằng cảm quan sau khi nguyên liệu đã được tẩm ướp, sấy và đóng gói. Thịt qua cấp đông có thể bở hơn, thớ dễ đứt và màu sắc thay đổi, nhưng còn phụ thuộc giống trâu, phần thịt, phương pháp cấp đông, rã đông và chế biến. Vì vậy, hồ sơ truy xuất và thông tin trung thực trên nhãn quan trọng hơn cách phân biệt bằng mắt thường.
Vụ việc không phải căn cứ để đánh đồng thịt trâu nhập khẩu với thực phẩm kém chất lượng. Đến nay chưa có kết luận công khai cho thấy sản phẩm trong vụ án gây tổn hại sức khỏe. Vấn đề đặt ra là tính trung thực của thông tin: người tiêu dùng đã mua loại thịt nào, nguyên liệu đến từ đâu và giá trị “đặc sản Tây Bắc” có đúng như quảng cáo hay không.
Thịt nhập khẩu còn có thể đi vào xúc xích, chả, giò, viên thả lẩu, thịt nguội và đồ hộp. Một sản phẩm ghi “sản xuất tại Việt Nam” chỉ cho biết nơi làm ra thành phẩm, không mặc nhiên chứng minh vật nuôi được chăn nuôi và giết mổ trong nước. Tương tự, “đóng gói tại Việt Nam” không đồng nghĩa với “nguyên liệu Việt Nam”.
Những tháng gần đây, lực lượng chức năng liên tục phát hiện thực phẩm đông lạnh không có hóa đơn, chứng từ hoặc mất nhãn gốc. Đầu tháng 8/2026, gần 17 tấn thực phẩm đông lạnh không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc bị tạm giữ. Tại TP.HCM, từ tháng 3/2026 đến nay, cơ quan chức năng phát hiện 61 trường hợp vi phạm trong lĩnh vực chăn nuôi, thú y; xử phạt hơn 439 triệu đồng và tiêu hủy gần 50 tấn động vật, sản phẩm động vật không bảo đảm vệ sinh thú y.
Những vụ việc trên cho thấy vi phạm không nhất thiết phát sinh tại cửa khẩu. Một lô thịt có thể được nhập khẩu hợp pháp nhưng sau nhiều lần mua bán, chia nhỏ, chế biến, hóa đơn, nhãn gốc và mã lô không còn đi cùng sản phẩm.
Vì vậy, truy xuất nguồn gốc phải xuyên suốt từ doanh nghiệp nhập khẩu, kho lạnh, nhà phân phối đến cơ sở chế biến, nhà hàng và bếp ăn. Những sản phẩm gắn mác “đặc sản”, “trâu bản”, “bò tươi”, “gà đồi” hay “thịt nội địa” cũng cần được hậu kiểm, yêu cầu người bán chứng minh nguồn nguyên liệu. Người tiêu dùng nên thận trọng với mức giá thấp bất thường, kiểm tra xuất xứ, đơn vị chịu trách nhiệm, ngày đóng gói, hạn sử dụng và điều kiện bảo quản. Với thực phẩm chế biến, cần phân biệt nơi sản xuất thành phẩm và nguồn gốc nguyên liệu.
Thịt đông lạnh nhập khẩu giá rẻ không phải vấn đề. Đáng lo là sau nhiều lớp trung gian, thông tin về xuất xứ, tình trạng đông lạnh và lịch sử bảo quản dần biến mất, trong khi sản phẩm lại xuất hiện dưới một tên gọi mới.
Anh Đào