12:13 29/07/2025

Thuế chứng khoán 20%: Công bằng cần thiết hay gánh nặng phi lý với nhà đầu tư cá nhân?

Đề xuất áp thuế thu nhập cá nhân 20% trên phần lợi nhuận chứng khoán của Bộ Tài chính đang làm dấy lên làn sóng tranh luận trong cộng đồng đầu tư. Bên cạnh nỗ lực minh bạch hóa và tăng thu ngân sách, nhiều ý kiến lo ngại chính sách thuế này có thể làm triệt tiêu động lực đầu tư, ảnh hưởng đến thanh khoản và gây khó cho nhà đầu tư nhỏ lẻ.

Thị trường chứng khoán đang chứng kiến những luồng tranh luận sôi nổi xoay quanh đề xuất sửa đổi thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng cổ phiếu. Cụ thể, Bộ Tài chính đề xuất áp dụng thuế suất 20% trên phần lợi nhuận ròng thay cho mức thuế 0,1% trên giá trị giao dịch như hiện hành.

Về lý thuyết, việc chỉ đánh thuế khi có lãi được xem là công bằng hơn. Tuy nhiên, mức thuế 20% – nếu được thông qua liệu có đang tạo ra rào cản mới cho nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư cá nhân, vốn chiếm hơn 80% thanh khoản thị trường. Quan trọng hơn, chính sách thuế mới sẽ cân bằng ra sao giữa mục tiêu tăng thu ngân sách và phát triển thị trường vốn.

Để góp thêm một góc nhìn từ góc độ pháp lý, Tạp chí Thương Trường đã có cuộc trao đổi chuyên sâu với Luật sư Nguyễn Văn Tuấn – Giám đốc Công ty Luật TNHH TGS (Đoàn Luật Sư T.P Hà Nội).

Thuế chứng khoán 20 Công bằng cần thiết hay gánh nặng phi lý với nhà đầu tư cá nhân
Nguyễn Văn Tuấn – Giám đốc Công ty Luật TNHH TGS 

 

Đánh thuế trên lãi ròng: Nguyên lý đúng nhưng mức thuế cần hợp lý hơn

PV: Việc thuế chỉ đánh khi có lãi được đánh giá là công bằng hơn so với thuế 0,1% hiện hành, nhưng mức 20% lại bị cho là quá cao. Theo ông, liệu mức thuế này có phản ánh đúng bản chất sự công bằng và khả năng chi trả của đa số nhà đầu tư cá nhân hay không?

Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Tôi đánh giá cao nỗ lực của cơ quan quản lý trong việc rà soát và điều chỉnh chính sách thuế nhằm hướng đến sự công bằng, minh bạch và tiệm cận chuẩn mực quốc tế. Việc xem xét chuyển từ phương thức "thu thuế cào bằng" 0,1% trên tổng giá trị giao dịch sang phương thức đánh thuế trên phần lợi nhuận ròng (20%) là một bước tiến về mặt nguyên lý thuế — bởi nó phản ánh đúng bản chất thu nhập chịu thuế, tức chỉ thu khi cá nhân thực sự có thu nhập từ đầu tư.

Tuy nhiên, trên thực tiễn và dưới góc nhìn của một luật sư tư vấn nhiều năm cho nhà đầu tư trong và ngoài nước, tôi cho rằng mức thuế 20% là chưa hợp lý trong bối cảnh hiện tại. Mặc dù cơ chế “thu trên lãi” là đúng, nhưng mức thuế 20% là khá cao nếu so với mặt bằng thuế trong khu vực và cả trong nội tại hệ thống pháp luật thuế Việt Nam.

Cụ thể, thuế thu nhập từ tiền công, tiền lương cũng áp theo biểu lũy tiến, và chỉ đến mức cao nhất mới bị áp thuế 20%. Trong khi đó, thu nhập từ chứng khoán lại chịu ngay thuế suất 20%, không phân biệt quy mô, tính chất hay thời gian nắm giữ, là điều không hợp lý, nhất là trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam còn chưa ổn định, nhà đầu tư cá nhân vẫn chiếm tỷ trọng lớn và phần đông là nhóm nhỏ lẻ, dễ bị tổn thương trước biến động thị trường.

Ngoài ra, mức thế này chưa phản ánh đúng khả năng chi trả của đại đa số nhà đầu tư cá nhân. Bởi phần lớn nhà đầu tư cá nhân tại Việt Nam hiện nay là người không chuyên, với quy mô vốn nhỏ và thường xuyên phải đối mặt với rủi ro thị trường. Do đó, việc áp thuế 20% có thể gây tâm lý e ngại, đặc biệt là khi họ vừa phải đối mặt với rủi ro thị trường, vừa lo ngại chi phí tuân thủ thuế cao; Làm giảm tính hấp dẫn của kênh đầu tư chứng khoán, đặc biệt là với những người đầu tư dài hạn hoặc nắm giữ cổ phiếu mang tính chiến lược và tăng gánh nặng kê khai, khi đòi hỏi nhà đầu tư phải xác định rõ giá vốn, chi phí hợp lệ trong khi không phải ai cũng có năng lực kế toán, lưu trữ chứng từ đầy đủ.

PV: Nếu nhà đầu tư có lỗ năm nay, nhưng có lãi năm sau thì có được bù trừ để giảm số thuế phải nộp hay không? Và nếu không cho bù trừ lãi-lỗ giữa các năm, điều này có thể gây ra bất công thế nào?

Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Theo quy định hiện hành, khi đánh thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng chứng khoán, Việt Nam không cho phép nhà đầu tư bù trừ lãi – lỗ giữa các kỳ tính thuế khác nhau, nghĩa là: “Nếu năm nay nhà đầu tư lỗ, nhưng năm sau có lãi, thì phần lỗ của năm trước không được khấu trừ để giảm số thuế phải nộp của năm sau.”

Điều này dẫn đến bất công ở nhiều góc độ. Đầu tiên đó là không phản ánh đúng bản chất thu nhập ròng của hoạt động đầu tư, bởi bản chất của hoạt động đầu tư chứng khoán là chuỗi các giao dịch có thể sinh lời hoặc thua lỗ theo chu kỳ thị trường, không thể cắt rời thành từng năm riêng biệt một cách máy móc.

Một nhà đầu tư lỗ 500 triệu trong năm 2025 và lãi 500 triệu trong năm 2026, nếu không được bù trừ, họ sẽ phải nộp thuế thu nhập cá nhân trên toàn bộ khoản lãi năm 2026, trong khi thu nhập ròng của cả hai năm là bằng 0. Đây là sự bất hợp lý về mặt kinh tế lẫn pháp lý, khi thuế không còn đánh trên “thu nhập”, mà đang đánh trên “doanh thu ròng lẻ kỳ”.

Ngoài ra, việc này tạo gánh nặng tâm lý và giảm động lực đầu tư dài hạn. Việc cắt khấu trừ lỗ theo năm khiến nhà đầu tư nhỏ lẻ, vốn ít có khả năng phòng vệ rủi ro trở nên dè dặt và ngắn hạn hơn, không dám chấp nhận giai đoạn thị trường khó khăn để theo đuổi đầu tư dài hạn. Trong bối cảnh thị trường chứng khoán vốn đã có nhiều rủi ro và tính chu kỳ cao, chính sách thuế nên đồng hành thay vì “thêm gánh nặng” một chiều trong những năm có lãi.

Nhiều quốc gia (như Hoa Kỳ, Đức, Canada...) đều cho phép khấu trừ lỗ chuyển kỳ (loss carry-forward) hoặc bù trừ lãi-lỗ trong nhiều năm, nhằm đảm bảo nguyên tắc “thuế chỉ đánh vào thu nhập ròng”. Việc Việt Nam không cho bù trừ lỗ giữa các năm khiến chính sách thuế trở nên cứng nhắc, không bắt kịp chuẩn mực thuế hiện đại, giảm sức hấp dẫn thị trường vốn với nhà đầu tư chuyên nghiệp, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài.

Thuế chứng khoán 20 Công bằng cần thiết hay gánh nặng phi lý với nhà đầu tư cá nhân
Việc áp dụng thuế mới cần phù hợp với thực tế thị trường

Ưu đãi thuế theo thời gian nắm giữ: Giải pháp thúc đẩy đầu tư dài hạn và ổn định thị trường

PV: Dự thảo cho phép trừ chi phí hợp lý như phí giao dịch, chi phí phân tích thị trường. Theo ông, trong thực tế áp dụng, liệu cơ quan thuế có thể kiểm soát và xác minh những khoản chi phí này một cách minh bạch và hiệu quả không?

Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Việc cho phép khấu trừ chi phí là một bước tiến đúng hướng, thể hiện nỗ lực xây dựng hệ thống thuế công bằng, phù hợp với thực tế đầu tư. Tuy nhiên, nếu không có hệ thống minh bạch, quy chuẩn hóa chi phí và công cụ kiểm soát đồng bộ, thì khả năng áp dụng thực tế sẽ gặp rất nhiều rủi ro, cả cho Nhà nước lẫn nhà đầu tư.Chính sách thuế cần đi kèm với hạ tầng công nghệ, chuẩn mực chứng từ và sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả thực thi. Chính vì vậy, tôi cho rằng, tính khả thi và hiệu quả kiểm soát của cơ quan thuế trong thực tế vẫn còn là dấu hỏi lớn, và cần phân tích rõ trên các phương diện sau:

Về cơ sở pháp lý và kỹ thuật kiểm soát, những khoản chi như phí giao dịch (thu qua công ty chứng khoán) có hóa đơn rõ ràng, truy vết được từ hệ thống ngân hàng hoặc sao kê tài khoản đầu tư — do đó có thể kiểm soát được khá dễ dàng.

Nhưng đối với các khoản như Chi phí thuê phần mềm phân tích, mua tài liệu nghiên cứu; Chi phí thuê chuyên gia, thuê tư vấn độc lập hoặc chi phí đi hội thảo, đào tạo đầu tư…thì các khoản này rất khó kiểm soát về tính “phục vụ đầu tư” thực sự, dễ bị lợi dụng để kê khai tràn lan, dẫn đến nguy cơ.

Bên cạnh đó, việc lạm dụng khấu trừ thuế, gây thất thu cho ngân sách; Phát sinh tranh chấp và rủi ro truy thu thuế sau quyết toán, gây bất ổn cho nhà đầu tư cá nhân. Trong khi hiện nay chưa có cơ chế giám sát đồng bộ giữa thuế – công ty chứng khoán – ngân hàng – đơn vị cung cấp dịch vụ, thì khả năng kiểm soát chỉ dừng ở mức hình thức.

Về nguồn lực và năng lực thực tiễn của cơ quan thuế, hệ thống thuế Việt Nam hiện nay đang phải quản lý hàng triệu nhà đầu tư cá nhân đang giao dịch qua hàng chục công ty chứng khoán, với mỗi người có thể thực hiện hàng trăm lệnh mỗi năm. Nếu cho phép khấu trừ chi phí một cách rộng rãi, cơ quan thuế phải xử lý và xác minh khối lượng chứng từ khổng lồ, trong khi nhân lực kiểm tra, công nghệ hỗ trợ và quy chuẩn đánh giá chi phí đầu tư hiện vẫn rất hạn chế. Có thể dẫn đến tình trạng bỏ lọt, lạm thu hoặc quá tải hệ thống nếu không có giải pháp kỹ thuật đi kèm.

PV: Nhiều chuyên gia đề xuất nên áp dụng mức thuế khác biệt theo thời gian nắm giữ (giống đề xuất với bất động sản). Luật sư đánh giá thế nào về đề xuất áp khung thuế theo thời gian giữ chứng khoán và tác động của nó đến hành vi đầu tư?

Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Tôi hoàn toàn đồng tình với đề xuất xây dựng biểu thuế thu nhập cá nhân theo thời gian nắm giữ chứng khoán. Đây là một hướng đi công bằng, hợp lý và có lợi cho sự phát triển bền vững của thị trường vốn.

Về mặt nguyên tắc chính sách thuế, trong lĩnh vực đầu tư, thời gian nắm giữ là chỉ số quan trọng phản ánh tính chất đầu cơ hay đầu tư dài hạn. Việc áp dụng khung thuế phân biệt theo thời gian nắm giữ sẽ: Thể hiện nguyên tắc điều tiết hành vi đầu tư thông qua thuế, khuyến khích nắm giữ dài hạn, hạn chế lướt sóng, đầu cơ ngắn hạn gây bất ổn thị trường; Đảm bảo tính công bằng: người giữ cổ phiếu trong nhiều năm (chịu rủi ro, chi phí cơ hội cao) xứng đáng được ưu đãi thuế hơn so với người mua – bán trong vài ngày.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy đây là thông lệ phổ biến. Đơn cử, Hoa Kỳ phân biệt giữa lãi vốn ngắn hạn (giữ dưới 1 năm – áp thuế theo thu nhập thông thường, tối đa 37%) và lãi vốn dài hạn (giữ trên 1 năm – áp thuế suất ưu đãi từ 0–20%); Đức, Pháp, Nhật Bản…: Đều có cơ chế ưu đãi thuế cho khoản đầu tư chứng khoán có thời gian nắm giữ dài hơn; Ngay cả tại Việt Nam, bất động sản cũng đã có đề xuất áp thuế chuyển nhượng theo thời gian sở hữu (càng để lâu, thuế càng giảm) cho thấy nguyên lý này đã được thừa nhận rộng rãi. Do đó, việc áp dụng thuế cho chứng khoán là hợp lý và không trái thông lệ quốc tế.

Việc áp thuế như vậy tác động tích cực đến hành vi đầu tư và thị trường vốn. Trong đó có việc khuyến khích đầu tư giá trị, bền vững: Giúp dòng vốn tập trung vào các doanh nghiệp có tiềm năng dài hạn, thay vì "lướt sóng" theo tin đồn. Ổn định thị trường khi giảm áp lực biến động giá ngắn hạn, hạn chế các hiện tượng thao túng, làm giá; Nâng cao tính chuyên nghiệp của nhà đầu tư cá nhân, khi có động lực giữ cổ phiếu dài hạn, nhà đầu tư sẽ chú trọng hơn vào phân tích cơ bản, báo cáo tài chính, chiến lược doanh nghiệp; Góp phần phát triển thị trường vốn trong vai trò là kênh huy động trung – dài hạn, thay vì chỉ là nơi "mua nhanh – bán gọn".

Ngoài ra, cần có cơ chế xác định thời gian nắm giữ rõ ràng qua hệ thống lưu ký chứng khoán và mã định danh giao dịch, đảm bảo tính minh bạch và khả năng giám sát của cơ quan thuế.

 

PV: Ngoài những vấn đề nói trên, luật sư còn có góp ý gì cho Dự thảo thuế để đảm bảo minh bạch, công bằng trên thị trường chứng khoán?

Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Để bảo đảm nguyên tắc công bằng và hiệu quả trong chính sách thuế thu nhập cá nhân đối với chứng khoán, tôi kiến nghị:

Cho phép khấu trừ lỗ trong tối thiểu 3 – 5 năm liên tiếp, tương tự như cơ chế chuyển lỗ của doanh nghiệp; Cơ quan thuế có thể yêu cầu cá nhân lưu trữ và kê khai hồ sơ đầy đủ, như sao kê tài khoản chứng khoán, biên lai nộp thuế các năm, để đảm bảo tính minh bạch khi khấu trừ; Nếu không thể triển khai ngay, nên áp dụng cơ chế thử nghiệm với nhà đầu tư chuyên nghiệp hoặc có tài khoản lưu ký tại các công ty chứng khoán đạt chuẩn kiểm toán; 

Ngoài ra, để thị trường minh bạch và khả thi hơn, tôi cho rằng để vừa đảm bảo công bằng, vừa hạn chế rủi ro lạm dụng, Nhà nước nên khoanh rõ nhóm chi phí được khấu trừ, ưu tiên cho các khoản; Phí giao dịch, phí lưu ký; Chi phí dịch vụ phân tích/thuê phần mềm có hợp đồng và thanh toán qua ngân hàng; Khuyến khích công ty chứng khoán cung cấp bản tổng hợp chi phí giao dịch theo mã số thuế khách hàng, tự động tích hợp vào hệ thống kê khai thuế để giảm thủ tục cho cá nhân. Đồng thời thí điểm trước với nhà đầu tư chuyên nghiệp hoặc nhóm đầu tư lớn trước khi áp dụng đại trà.

Lê Phong