Tín dụng bán lẻ đang mở rộng dư địa thúc đẩy tiêu dùng, hỗ trợ hộ gia đình và tạo đầu ra cho doanh nghiệp trong nước. Nhưng để dòng vốn thực sự trở thành động lực tăng trưởng, ngân hàng cần cân bằng khả năng tiếp cận vốn, trả nợ và chất lượng tài sản.
Tín dụng thêm động lực nhờ dư địa tiêu dùng còn mở rộng
Theo Cục Thống kê, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành trong chín tháng đầu năm 2026 ước đạt 5.926 nghìn tỷ đồng, tăng 13,4% so với cùng kỳ. Nếu loại trừ yếu tố giá, mức tăng đạt 7,8%, cao hơn mức tăng 7,2% của cùng kỳ năm 2025. Kết quả này cho thấy sức mua trong nước có cải thiện thực chất, dù mức tăng danh nghĩa vẫn bao gồm tác động từ biến động giá cả.
Cùng với sự phục hồi của tiêu dùng, tín dụng phục vụ nhu cầu đời sống tiếp tục chiếm tỷ trọng đáng kể trong hoạt động ngân hàng. Theo thông tin tại hội thảo do Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam tổ chức ngày 2/10/2026, dư nợ cho vay phục vụ nhu cầu đời sống và dư nợ tín dụng qua thẻ của toàn hệ thống đến cuối tháng 8 đạt khoảng 4,62 triệu tỷ đồng, tăng 21,75% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 22,56% tổng dư nợ tín dụng nền kinh tế.
Quy mô này cho thấy tín dụng bán lẻ là một trong những cấu phần đáng kể của thị trường vốn. Tuy nhiên, ngoài các khoản vay phục vụ đời sống, tín dụng bán lẻ còn có thể bao gồm cho vay hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ.
Ảnh minh họa
Ở góc độ thị trường, tín dụng tiêu dùng có thể tạo ra hiệu ứng lan tỏa. Khi người dân có khả năng tài chính để mua sắm hàng hóa lâu bền hoặc chi trả cho các nhu cầu thiết yếu, doanh nghiệp có thêm doanh thu, từ đó duy trì sản xuất, nhập hàng và việc làm. Nhưng hiệu ứng này chỉ bền vững khi khoản vay phù hợp với thu nhập và không đẩy hộ gia đình vào tình trạng phải vay mới để trả nợ cũ.
TS Đào Minh Tú, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, nguyên Phó Thống đốc Thường trực NHNN, nhấn mạnh tại hội thảo ngày 2/10 rằng tài chính tiêu dùng cần được nhìn nhận từ nhu cầu thực tế của từng gia đình, thay vì chỉ qua quy mô dư nợ hoặc tốc độ tăng trưởng. Theo ông, nguồn vốn phù hợp giúp người dân chủ động trước những khoản chi như học phí, thiết bị gia dụng hay phương tiện phục vụ công việc, đồng thời hỗ trợ lưu thông hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế.
Điều đó đặt ra yêu cầu đối với ngân hàng, tăng trưởng tín dụng không thể chỉ dựa vào mở rộng số lượng khách hàng hoặc nâng hạn mức vay. Chất lượng sản phẩm phải được đánh giá bằng mức độ phù hợp với nhu cầu, khả năng chi trả, tính minh bạch của chi phí và trải nghiệm khách hàng trong suốt vòng đời khoản vay.
Mở rộng tiếp cận nhưng vẫn cần an toàn
Một đặc điểm của thị trường tín dụng bán lẻ là sự khác biệt lớn về hồ sơ tài chính giữa các nhóm khách hàng. Người hưởng lương có thu nhập ổn định thường dễ chứng minh khả năng trả nợ hơn lao động tự do, hộ kinh doanh nhỏ hoặc người có thu nhập theo mùa vụ. Nếu ngân hàng chỉ dựa vào bảng lương và tài sản bảo đảm, một bộ phận khách hàng có hoạt động kinh tế thực nhưng thiếu hồ sơ chuẩn hóa có thể khó tiếp cận tín dụng chính thức.
Báo cáo thị trường tài chính tiêu dùng năm 2026 của FiinGroup cho thấy các ngân hàng thương mại tiếp tục là động lực tăng trưởng chính của thị trường cho vay tiêu dùng. Đại diện của FiinGroup cho rằng, thị trường đang chuyển dần từ cạnh tranh mở rộng quy mô sang chú trọng chất lượng tăng trưởng, trong bối cảnh các tổ chức cho vay phải thích ứng với khác biệt về chi phí vốn, năng lực quản trị rủi ro và chất lượng khách hàng. Báo cáo cũng ghi nhận dư nợ tài chính tiêu dùng năm 2025 tăng khoảng 26% so với năm trước.
Trong khi đó, báo cáo cập nhật ngành ngân hàng quý I/2026 của VIS Rating cảnh báo áp lực chất lượng tài sản gia tăng tại một số ngân hàng quy mô vừa và nhỏ, đặc biệt ở các danh mục cho vay bán lẻ, vay mua nhà, hộ kinh doanh và tín dụng tiêu dùng không có tài sản bảo đảm. Theo tổ chức này, tỷ lệ nợ có vấn đề của ngành tăng lên 2,2% trong quý I/2026, cao hơn 0,11 điểm phần trăm so với quý trước. Đây là chỉ báo cần theo dõi, nhưng không nên diễn giải thành tỷ lệ nợ xấu riêng của toàn bộ danh mục tín dụng bán lẻ.
Những cảnh báo này cho thấy mở rộng tín dụng bán lẻ cần đi cùng quản trị rủi ro theo từng phân khúc. Với khoản vay mua nhà, ngân hàng cần đánh giá khả năng trả nợ trong nhiều kịch bản lãi suất và thu nhập. Với khoản vay tiêu dùng không có tài sản bảo đảm, lịch sử thanh toán, tổng nghĩa vụ nợ và mức thu nhập khả dụng cần được xem xét đầy đủ. Với hộ kinh doanh, dữ liệu doanh thu, chu kỳ hàng tồn kho và công nợ phải thu có thể giúp đánh giá dòng tiền sát thực tế hơn.
Theo đó, giao dịch tài khoản, lịch sử trả nợ, dữ liệu hóa đơn điện tử và thông tin doanh thu được xác minh có thể giúp ngân hàng đánh giá khách hàng không chỉ qua tài sản thế chấp. Tuy nhiên, việc sử dụng dữ liệu cần bảo đảm quyền riêng tư, sự đồng ý phù hợp của khách hàng và khả năng giải thích các quyết định tín dụng tự động. Công nghệ giúp giảm chi phí xử lý, nhưng không thay thế trách nhiệm thẩm định và giám sát của tổ chức cho vay.
Một vấn đề khác, khách hàng cần được thông tin rõ về lãi suất, phí, phương pháp tính lãi, nghĩa vụ thanh toán và hệ quả khi trả chậm. Với các sản phẩm tín dụng số được phê duyệt nhanh, yêu cầu này càng quan trọng bởi sự thuận tiện có thể khiến người vay đánh giá chưa đầy đủ tổng chi phí và khả năng trả nợ. Bảo vệ người tiêu dùng không chỉ là xử lý khiếu nại sau khi phát sinh tranh chấp, mà còn phải bắt đầu từ khâu thiết kế sản phẩm và tư vấn trước khi ký hợp đồng.
Ở phía ngân hàng, hiệu quả tín dụng bán lẻ nên được đo bằng lợi nhuận điều chỉnh theo rủi ro, tỷ lệ khách hàng trả nợ đúng hạn, chi phí phục vụ, mức độ duy trì khách hàng và chất lượng xử lý khiếu nại. Về phía cơ quan quản lý, cần tiếp tục giám sát hoạt động cho vay có trách nhiệm, kiểm soát các hình thức cấp tín dụng không minh bạch và tăng cường giáo dục tài chính cho người dân.
Sức bật của thị trường nội địa sẽ phụ thuộc không chỉ vào khả năng cung ứng tín dụng, mà còn vào thu nhập thực tế, niềm tin tiêu dùng và triển vọng việc làm. Khi tín dụng bán lẻ được phát triển trên nền tảng dữ liệu minh bạch, sản phẩm phù hợp và kỷ luật trả nợ, dòng vốn có thể tạo thêm sức mua mà không làm gia tăng quá mức gánh nặng tài chính hộ gia đình.
Phượng Hòa