Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng năm 2026 đạt gần 5.926 nghìn tỷ đồng, tăng khoảng 700 nghìn tỷ đồng so với cùng kỳ. Tuy nhiên, mức tăng sau khi loại trừ yếu tố giá đạt 7,8%, đặt ra yêu cầu thúc đẩy tiêu dùng đi cùng giảm chi phí và giữ ổn định giá bán.
Tăng trưởng nhanh hơn trong quý III, sức mua chưa đồng đều
Theo báo cáo của Hiệp hội Các nhà bán lẻ Việt Nam về kết quả công tác bán lẻ, bình ổn thị trường 9 tháng và nhiệm vụ 3 tháng cuối năm 2026, thị trường trong nước tiếp tục mở rộng, hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng đạt 5.925,7 nghìn tỷ đồng, tăng 13,4% so với cùng kỳ. Tính ngược từ quy mô và tốc độ tăng được nêu trong báo cáo, kết quả cùng kỳ năm 2025 tương ứng khoảng 5.225,5 nghìn tỷ đồng. Như vậy, quy mô thị trường tăng thêm khoảng 700,2 nghìn tỷ đồng sau một năm.
Phần tăng thêm này cho thấy thị trường nội địa tiếp tục tạo nguồn cầu lớn cho hàng hóa và dịch vụ. Tuy nhiên, đây là mức tăng tính theo giá hiện hành, bao gồm tác động của giá cả, chưa thể xem toàn bộ là phần tăng về lượng hàng hóa và dịch vụ được tiêu thụ.
Đáng chú ý, quý III đạt khoảng 2.039 nghìn tỷ đồng, tăng 14,5% so với cùng kỳ, cao hơn 1,1 điểm phần trăm so với tốc độ tăng chung của 9 tháng. So với quý II, quy mô tăng 3,3%. Tính từ số liệu báo cáo, tổng mức của quý II tương ứng khoảng 1.973,9 nghìn tỷ đồng, tức quý III tăng thêm khoảng 65,1 nghìn tỷ đồng.
Hai cách so sánh cho thấy thị trường quý III vừa mở rộng so với cùng kỳ năm trước, vừa tăng so với quý liền trước. Tuy vậy, mức tăng giữa hai quý có thể chịu ảnh hưởng của mùa du lịch, các dịp lễ và thời điểm mua sắm. Muốn khẳng định xu hướng tăng bền vững, cần tiếp tục theo dõi lượng hàng tiêu thụ và kết quả của từng nhóm ngành.
Riêng tháng 9 đạt khoảng 690,6 nghìn tỷ đồng, tăng 1,7% so với tháng trước và tăng 14,1% so với cùng kỳ. Theo phép tính từ các mức tăng này, quy mô tháng 8 tương ứng khoảng 679,1 nghìn tỷ đồng, còn tháng 9/2025 khoảng 605,3 nghìn tỷ đồng.
Như vậy, tháng 9 tăng thêm khoảng 11,5 nghìn tỷ đồng so với tháng 8 và khoảng 85,3 nghìn tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động tiêu dùng vẫn tăng, nhưng mức tăng cùng kỳ 14,1% của tháng 9 thấp hơn nhẹ so với mức 14,5% của toàn quý III. Một tháng chưa đủ để kết luận thị trường chậm lại, song cũng cho thấy không nên mặc nhiên cho rằng tốc độ tăng sẽ tiếp tục cao hơn khi bước vào cuối năm.
Vấn đề quan trọng hơn nằm ở khoảng cách giữa tăng trưởng doanh thu và tăng trưởng sau khi loại trừ yếu tố giá. Trong 9 tháng, mức tăng theo giá hiện hành đạt 13,4%, trong khi mức tăng sau loại trừ yếu tố giá đạt 7,8%, chênh lệch 5,6 điểm phần trăm.
Khoảng cách này cho thấy giá cả có đóng góp đáng kể vào tăng trưởng doanh thu. Tuy nhiên, không thể coi chênh lệch 5,6 điểm phần trăm là mức tăng giá bán lẻ chung, bởi hai tốc độ tăng được tính trên những cơ sở khác nhau.
Với người tiêu dùng, số tiền bỏ ra nhiều hơn chưa chắc đồng nghĩa với mua được nhiều hàng hơn. Khi chi phí cho thực phẩm, đi lại và các dịch vụ thiết yếu tăng, phần thu nhập dành cho những nhu cầu khác có thể thu hẹp. Người mua có thể chuyển sang sản phẩm giá thấp hơn, giảm lượng mua hoặc kéo dài thời gian sử dụng những mặt hàng chưa cần thay mới.
Với doanh nghiệp, doanh thu tăng cũng chưa bảo đảm lợi nhuận tăng. Nếu giá nhập hàng, chi phí vận tải, kho bãi và vận hành cùng tăng, phần thu nhập giữ lại sau bán hàng có thể không cải thiện tương ứng. Vì thế, đánh giá kết quả kinh doanh cần đặt doanh thu bên cạnh lượng hàng bán, chi phí và khả năng quay vòng vốn.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng năm 2026 đạt gần 5.926 nghìn tỷ đồng, tăng khoảng 700 nghìn tỷ đồng so với cùng kỳ.
Cũng cần phân biệt tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng với doanh thu riêng của bán lẻ hàng hóa. Chỉ tiêu tổng hợp bao gồm cả các hoạt động dịch vụ. Sự tăng trưởng của du lịch, lưu trú, ăn uống có thể đóng góp vào kết quả chung, nhưng chưa đủ để kết luận mọi ngành hàng và mọi địa bàn đều có sức mua tốt hơn.
Báo cáo ghi nhận khách quốc tế 9 tháng đạt khoảng 17,7 triệu lượt, tăng 14,5% so với cùng kỳ. Nguồn cầu này hỗ trợ những địa bàn có hoạt động du lịch, song tác động tới các hệ thống phân phối còn phụ thuộc vị trí, loại sản phẩm và khả năng tiếp cận khách hàng.
Ở phía thu nhập, số lao động có việc làm đạt khoảng 52,7 triệu người, tăng gần 684 nghìn người so với cùng kỳ. Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 12,3%, trong đó chế biến, chế tạo tăng 12,9%. Đây là những yếu tố thuận lợi cho thị trường, bởi sản xuất mở rộng vừa bổ sung nguồn hàng, vừa tạo việc làm.
Dù vậy, tăng số người có việc làm chưa phản ánh đầy đủ mức cải thiện thu nhập của từng gia đình. Sức mua còn phụ thuộc tiền lương, sự ổn định công việc, các khoản phải trả và kỳ vọng về thời gian tới. Khi còn lo ngại về chi phí sinh hoạt, người dân có thể tiếp tục thận trọng dù thu nhập đã tăng.
Nhận định của Hiệp hội rằng thị trường đang chuyển từ phục hồi sang mở rộng, nhưng sức mua chưa đồng đều, vì vậy cần được cụ thể hóa trong các chương trình kích cầu. Doanh nghiệp cần biết nhóm khách hàng nào đang mua nhiều hơn, nhóm nào giảm chi tiêu và những sản phẩm nào tăng doanh thu chủ yếu do giá bán cao hơn.
Nếu chỉ nhìn kết quả tổng hợp để mở rộng nguồn hàng đồng loạt, doanh nghiệp có thể gặp tồn kho ở những ngành hàng tiêu thụ chậm. Ngược lại, những sản phẩm thiết yếu hoặc phân khúc giá phù hợp có thể thiếu hàng cục bộ nếu nhu cầu không được nhận diện kịp thời.
Giảm chi phí để tăng sức mua thực
Áp lực giá cả là nội dung được Hiệp hội đặc biệt lưu ý. Theo báo cáo, CPI tháng 9 tăng 0,62% so với tháng trước và tăng 5,08% so với cùng kỳ. Bình quân 9 tháng, CPI tăng 4,52%, lạm phát cơ bản tăng 4,26%.
Mức tăng CPI tháng 9 so với cùng kỳ cao hơn mức tăng bình quân 9 tháng. Tuy nhiên, hai chỉ tiêu phản ánh những khoảng thời gian khác nhau; muốn đánh giá áp lực giá đang tăng nhanh đến đâu, cần có thêm diễn biến các tháng trước và đóng góp của từng nhóm hàng.
Tương tự, lạm phát cơ bản bình quân tăng 4,26%, thấp hơn CPI bình quân 0,26 điểm phần trăm. Chênh lệch này chưa đủ để xác định nguyên nhân lạm phát, nhưng cho thấy việc điều hành cần theo dõi cả biến động của các nhóm hàng trong CPI và diễn biến giá được phản ánh qua chỉ tiêu lạm phát cơ bản.
Ở phía sản xuất, chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất 9 tháng tăng 5,12%; giá sản xuất công nghiệp tăng 4,37% và giá nhập khẩu hàng hóa tăng 2,56%. Các chỉ số đều tăng so với cùng kỳ, cho thấy doanh nghiệp đang chịu sức ép chi phí ở nhiều khâu.
Tuy nhiên, đây là các chỉ số có phạm vi và cơ cấu khác nhau, không thể cộng các mức tăng để tính mức tăng giá bán lẻ, cũng không thể kết luận toàn bộ chi phí đã được chuyển sang người tiêu dùng. Khả năng điều chỉnh giá còn phụ thuộc cạnh tranh, sức mua, hợp đồng cung ứng và mức lợi nhuận doanh nghiệp có thể chấp nhận.
Nếu nhu cầu tăng nhưng nguồn hàng và năng lực phân phối không theo kịp, giá có thể chịu thêm sức ép. Ngược lại, nếu hàng hóa được chuẩn bị đúng nhu cầu, vận chuyển thuận lợi và chi phí giảm, doanh nghiệp sẽ có thêm điều kiện tăng lượng bán mà không phải tăng giá tương ứng.
Đây là cơ sở cho kiến nghị của Hiệp hội về tăng cung, giảm chi phí, giảm khâu trung gian và nâng năng suất. Các giải pháp này cần được triển khai cùng chương trình kích cầu, để doanh thu tăng nhờ giao dịch mở rộng và người dân mua được nhiều hàng hóa hơn.
Trước hết, kế hoạch nguồn hàng phải bám sát nhu cầu từng địa bàn và thời điểm. Hàng có thể dồi dào ở vùng sản xuất nhưng vẫn thiếu tại nơi tiêu thụ nếu vận chuyển, bảo quản hoặc giao nhận gặp khó. Bảo đảm nguồn cung vì vậy cần tính cả lượng hàng sẵn có và khả năng đưa hàng tới điểm bán đúng lúc.
Dự trữ cho quý IV và dịp Tết cũng phải phù hợp với tốc độ tiêu thụ. Hàng nhập về phải sử dụng vốn, kho bãi và nhân lực quản lý. Dự trữ quá ít làm tăng nguy cơ thiếu hàng khi nhu cầu lên cao; dự trữ quá nhiều lại gây tồn vốn, hao hụt và giảm hiệu quả kinh doanh.
Hiệp hội kiến nghị hỗ trợ doanh nghiệp bán lẻ tiếp cận vốn với chi phí hợp lý, đặc biệt là vốn lưu động phục vụ dự trữ hàng thiết yếu. Việc hỗ trợ cần gắn với phương án cung ứng cụ thể, giúp doanh nghiệp chủ động mua hàng và thanh toán cho nhà cung cấp.
Giảm chi phí logistics là một trọng tâm khác. Chi phí này bao gồm vận tải, bốc dỡ, lưu kho, bảo quản, thời gian chờ và hao hụt. Đối với nông sản, thực phẩm, chất lượng kho lạnh và điều kiện vận chuyển còn quyết định tỷ lệ hàng có thể bán được.
Nếu hao hụt cao, doanh nghiệp phải bù chi phí của phần hàng mất đi bằng hiệu quả từ phần hàng còn lại. Giảm hao hụt vì thế có thể tạo dư địa giữ giá mà vẫn bảo đảm hoạt động kinh doanh. Đầu tư trung tâm phân phối, kho lạnh và kết nối vận tải cần hướng tới hiệu quả sử dụng thực tế, phù hợp quy mô nguồn hàng và thị trường tiêu thụ.
Việc giảm khâu trung gian cũng cần xem xét theo chức năng từng công đoạn. Có đầu mối thực hiện thu gom, phân loại, bảo quản và đưa hàng tới những địa bàn nhỏ. Nếu bỏ đầu mối này nhưng nhà sản xuất hoặc nhà bán lẻ phải tự tổ chức với chi phí lớn hơn, giá tới người tiêu dùng chưa chắc giảm.
Điều cần loại bỏ là những công đoạn trùng lặp, thời gian chờ không cần thiết và chi phí không tạo thêm giá trị. Liên kết trực tiếp giữa nhà sản xuất và hệ thống phân phối có thể giúp giảm các khoản này, nhưng phải đi cùng thỏa thuận rõ về chất lượng, lịch giao, thanh toán và trách nhiệm khi thị trường biến động.
Một kiến nghị đáng chú ý của Hiệp hội là nghiên cứu xây dựng hệ thống dữ liệu thị trường bán lẻ quốc gia, kết nối tự nguyện giữa cơ quan quản lý, nhà sản xuất, nhà phân phối, doanh nghiệp bán lẻ và logistics. Dữ liệu được tổng hợp dưới dạng chỉ số, có cơ chế bảo mật và không làm lộ bí mật kinh doanh.
Để phục vụ điều hành, dữ liệu cần cho phép so sánh với cùng kỳ và kỳ liền trước. Lượng bán tăng nhưng giá không tăng khác với doanh thu tăng trong khi lượng bán giảm. Tồn kho giảm do tiêu thụ tốt cũng khác với tồn kho giảm vì nhà cung cấp giao hàng chậm. Phân biệt được các tình huống này giúp xác định đúng nơi cần bổ sung nguồn hàng hoặc kiểm tra chi phí.
Thông tin cũng cần phản ánh nhiều kênh phân phối, từ siêu thị, cửa hàng tiện lợi đến chợ truyền thống, cửa hàng nhỏ và thương mại điện tử. Dữ liệu của một vài hệ thống lớn có thể hữu ích, nhưng chưa chắc đại diện cho toàn thị trường.
Mức tăng sau khi loại trừ yếu tố giá đạt 7,8%, đặt ra yêu cầu thúc đẩy tiêu dùng đi cùng giảm chi phí và giữ ổn định giá bán.
Với doanh nghiệp, chuyển đổi số và AI có thể hỗ trợ dự báo nhu cầu, quản lý tồn kho và tổ chức vận chuyển. Hiệu quả cần được đo bằng mức giảm chi phí, giảm hao hụt, tăng tốc độ quay vòng hàng và khả năng đáp ứng khách hàng.
Các chương trình khuyến mại cuối năm cũng cần được đánh giá bằng lợi ích thực tế. Doanh nghiệp phải làm rõ giá sau giảm, điều kiện áp dụng và các khoản phí đi kèm. Cơ quan quản lý cần tăng kiểm tra hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc và gian lận thương mại, đồng thời phân biệt tăng giá có cơ sở từ chi phí với hành vi lợi dụng khan hiếm.
Hiệp hội đặt ra năm yêu cầu cho quý IV: đủ hàng, giá hợp lý, lưu thông thông suốt, bảo đảm sức mua và củng cố niềm tin thị trường. Để thực hiện, cần theo dõi cả doanh thu, lượng tiêu thụ, tồn kho và chi phí, thay vì chỉ chú ý tốc độ tăng tổng mức bán lẻ.
Quy mô thị trường đã tăng đáng kể so với cùng kỳ, còn quý III tiếp tục mở rộng so với quý II. Nhiệm vụ cuối năm là duy trì kết quả đó bằng nguồn hàng ổn định và giá bán hợp lý. Khi người dân có thể mua thêm hàng hóa trong khả năng chi trả, doanh nghiệp mới có đầu ra bền vững để tiếp tục đầu tư và phát triển.
Quang Anh