Phân khúc ô tô hạng A chạy xăng tại Việt Nam hiện chỉ còn ba cái tên quen thuộc. Toyota Wigo không có giá khởi điểm thấp nhất, nhưng tạo khác biệt bằng hộp số D-CVT, không gian sử dụng và nhóm trang bị an toàn đáng chú ý trên một mẫu xe đô thị cỡ nhỏ.
Ba mẫu xe, ba cách tiếp cận
Khảo sát đầu tháng 9/2026 cho thấy cuộc đua xe hạng A đã thu hẹp đáng kể. Honda Brio, Suzuki Celerio và VinFast Fadil không còn được phân phối dưới dạng xe mới, để lại sân chơi chính cho Toyota Wigo, Hyundai Grand i10 và Kia Morning.
Tuy nhiên, khoảng giá từ hơn 300 triệu đến gần 470 triệu đồng khiến ba mẫu xe không chỉ cạnh tranh với nhau mà còn phải chịu sức ép từ một số sedan hạng B và xe điện đang được khuyến mại.
Theo website Toyota Việt Nam, Wigo hiện được nhập khẩu từ Indonesia và chỉ còn phiên bản G, giá niêm yết 405 triệu đồng. Xe sử dụng động cơ xăng 1,2 lít kết hợp hộp số biến thiên vô cấp kép D-CVT.
Hyundai Grand i10 có dải lựa chọn rộng hơn. Biến thể hatchback gồm bản số sàn tiêu chuẩn giá 360 triệu đồng, số tự động tiêu chuẩn 405 triệu đồng và số tự động cao cấp 435 triệu đồng. Xe còn có biến thể sedan giá 380-455 triệu đồng. Mức giá cập nhật tháng 9/2026 cho thấy Wigo G ngang giá Grand i10 hatchback 1.2 AT tiêu chuẩn và thấp hơn bản AT cao cấp 30 triệu đồng.
Kia trải dải giá theo một cách khác. THACO Auto công bố Morning MT giá 325 triệu đồng, thấp hơn Wigo 80 triệu đồng. Tuy nhiên, đây là xe số sàn, trang bị hướng tới nhu cầu cơ bản. Nếu so cùng xe số tự động, New Morning AT có giá 439 triệu đồng, còn GT-Line lên tới 469 triệu đồng. Như vậy, Wigo rẻ hơn Morning AT 34 triệu đồng và thấp hơn GT-Line 64 triệu đồng.
Wigo vì thế không nhắm tới vị trí “xe rẻ nhất”. Việc Toyota chỉ duy trì một bản số tự động giúp người mua đỡ phải cân nhắc cấu hình, nhưng bỏ trống nhóm khách hàng muốn mua xe số sàn để tiết kiệm vốn. Trong khi đó, Grand i10 phủ nhiều khoảng giá và có cả kiểu dáng sedan; Morning tạo cửa vào thấp nhất bằng phiên bản MT.
Hyundai Grand i10. Ảnh: Internet
Sự khác biệt còn thể hiện ở không gian sử dụng. Wigo có kích thước dài, rộng và cao lần lượt là 3.760 x 1.665 x 1.515 mm. Xe ngắn hơn Grand i10 hatchback nhưng sở hữu chiều dài cơ sở 2.525 mm, nhỉnh hơn mức 2.450 mm của Grand i10 và 2.400 mm của Morning. Toyota công bố khoảng cách giữa hai hàng ghế đạt 910 mm, khoang hành lý 261 lít.
Grand i10 hatchback có kích thước 3.815 x 1.680 x 1.520 mm, khoang hành lý khoảng 260 lít. Kia Morning nhỏ nhất trong ba mẫu, dài 3.595 mm, rộng 1.595 mm, cao 1.495 mm và khoang hành lý 255 lít. Morning dễ xoay xở trong đường hẹp, còn Wigo có bán kính quay vòng 4,5 m, nhỏ hơn Grand i10 4,9 m và Morning 4,7 m.
Về vận hành, Wigo dùng động cơ ba xi-lanh 1,2 lít, công suất 87 mã lực, mô-men xoắn 113 Nm. Grand i10 sử dụng máy 1,2 lít, bốn xi-lanh, công suất 83 mã lực và 114 Nm; bản tự động dùng hộp số 4 cấp. Morning AT có động cơ 1,25 lít, công suất 83 mã lực, mô-men xoắn 122 Nm và hộp số tự động 4 cấp. Những con số khá gần nhau cho thấy đây đều là các mẫu xe ưu tiên việc đi lại trong thành phố hơn là khả năng vận hành mạnh.
An toàn tạo khác biệt
Trang bị an toàn là điểm Wigo dễ tạo dấu ấn. Ngoài hệ thống chống bó cứng phanh, phân phối lực phanh điện tử, hai túi khí, camera và cảm biến lùi, xe còn có cân bằng điện tử, hỗ trợ khởi hành ngang dốc, cảnh báo điểm mù và cảnh báo phương tiện cắt ngang phía sau. Hai tính năng cảnh báo đặc biệt hữu ích khi chuyển làn hoặc lùi khỏi vị trí đỗ bị che khuất.
Grand i10 có lợi thế về số phiên bản; bản cao có thể sở hữu bốn túi khí, cảm biến áp suất lốp, cân bằng điện tử và hỗ trợ khởi hành ngang dốc. Morning AT có hai túi khí, ABS, EBD, hỗ trợ phanh khẩn cấp, màn hình 8 inch và kết nối Apple CarPlay, Android Auto không dây.
Trang bị của Grand i10 và Morning thay đổi theo từng cấu hình. Người mua cần đối chiếu đúng phiên bản được báo giá, thay vì lấy tính năng của bản cao nhất áp cho bản tiêu chuẩn. Wigo chỉ còn một phiên bản nên danh mục trang bị dễ theo dõi hơn.
Toyota Wigo. Ảnh: Internet
Hộp số D-CVT cũng là điểm riêng của Wigo. Mẫu xe Toyota có mức tiêu hao hỗn hợp được công bố khoảng 5,2 lít/100 km, trong khi Grand i10 AT khoảng 5,8 lít/100 km. Con số thực tế còn phụ thuộc giao thông, tải trọng và cách lái.
Các mức trên đều là giá niêm yết, chưa gồm thuế, phí và bảo hiểm. Toyota tạm tính Wigo G lăn bánh khoảng 474,4 triệu đồng tại Hà Nội, 465,8 triệu đồng tại TP.HCM và 446,3 triệu đồng tại các tỉnh; số thực trả còn phụ thuộc ưu đãi của đại lý.
Tháng 7/2026, Wigo bán được 194 xe, vượt mức 117 xe của Grand i10. Nhưng lũy kế bảy tháng đầu năm, Wigo mới đạt 397 xe, còn Grand i10 đạt 1.381 xe. Kia Morning không được THACO công bố riêng; nhóm “xe khác” chứa mẫu này không phát sinh doanh số trong tháng 7. Một tháng tăng mạnh chưa đủ khẳng định trật tự phân khúc đã đảo chiều.
Wigo phù hợp với người mua lần đầu muốn xe số tự động, ưu tiên bán kính quay vòng nhỏ, hàng ghế sau thoáng và nhiều hỗ trợ an toàn. Grand i10 hợp với người cần nhiều cấu hình, muốn lựa chọn giữa hatchback và sedan, đồng thời coi trọng độ phổ biến trên thị trường. Morning có lợi thế giá ở bản số sàn, còn các bản tự động thiên về thiết kế và tiện nghi nhưng giá đã tiến gần một số mẫu xe lớn hơn.
Trước khi xuống tiền, người mua nên lái thử, yêu cầu báo giá lăn bánh bằng văn bản và tách rõ tiền xe, bảo hiểm, phụ kiện. Với Wigo đã qua sử dụng, cần kiểm tra số VIN bởi Toyota từng triệu hồi 3.591 xe sản xuất từ ngày 13/2/2023 đến 16/7/2024 để cập nhật phần mềm điều khiển động cơ. Chủ xe nên xác nhận việc cập nhật miễn phí đã hoàn tất.
Quốc Toản