Để chuyển mạnh từ phát triển du lịch theo số lượng sang chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng, TP Hồ Chí Minh đang đặt trọng tâm vào hoàn thiện thể chế, đầu tư hạ tầng, tăng cường liên kết ngành - vùng và xây dựng hệ thống quản trị dựa trên dữ liệu, AI và công nghệ số
Chủ động thí điểm các mô hình du lịch mới
Theo Sở Du lịch TP Hồ Chí Minh, yêu cầu chuyển đổi tư duy phát triển du lịch được cụ thể hóa trước hết bằng ba nhóm giải pháp đột phá là thể chế, hạ tầng phục vụ dòng khách chi tiêu cao và quản trị dựa trên dữ liệu.
Một trong những điểm nghẽn được ngành du lịch thành phố xác định là khoảng trống pháp lý đối với một số mô hình kinh doanh mới đang xuất hiện trên thực tế. Cụ thể, kinh tế đêm, kinh tế ven sông, mô hình hoạt động 24/7, kinh tế chia sẻ và các nền tảng du lịch trực tuyến xuyên biên giới đã hình thành và phát triển, song khung quản lý đối với những mô hình này chưa đầy đủ.
Trước yêu cầu thực tiễn, TP Hồ Chí Minh đang xây dựng nghị quyết trình HĐND thành phố nhằm hỗ trợ các mô hình du lịch mới, cũng như chủ động nghiên cứu, đề xuất thí điểm có kiểm soát một số mô hình. Trong đó có mô hình trung tâm du lịch - giải trí - thương mại hoạt động 24/7 và cơ chế hoàn thuế giá trị gia tăng cho khách du lịch tại các trung tâm thương mại, điểm mua sắm đủ điều kiện.
Theo Sở Du lịch, đây là hướng tiếp cận nhằm tạo thêm không gian hoạt động, tăng khả năng chi tiêu của du khách và hình thành những sản phẩm phù hợp với xu hướng du lịch mới.
TP Hồ Chí Minh hướng tới các mô hình du lịch mới
Cùng với thể chế, hạ tầng được xác định là một trong những điều kiện quyết định khả năng đón dòng khách có mức chi tiêu cao. Thành phố định hướng phát triển thêm khách sạn cao cấp, trung tâm hội nghị có sức chứa tối thiểu 5.000 người, trung tâm triển lãm quốc tế quy mô 60.000 - 80.000 m² sàn trong nhà, cảng tàu khách du lịch quốc tế, bến du thuyền và các trung tâm mua sắm hàng hiệu theo chuẩn quốc tế. Toàn bộ nhu cầu về hạ tầng du lịch này đã được Sở Du lịch chuyển đến cơ quan lập Quy hoạch tổng thể thành phố để tích hợp trong quá trình lập quy hoạch.
Đối với lĩnh vực MICE, yêu cầu về hạ tầng càng trở nên rõ nét khi thành phố hiện chưa có trung tâm triển lãm đạt quy mô cạnh tranh khu vực. Trong khi đó, các điểm đến MICE hàng đầu Đông Nam Á có không gian triển lãm quy mô trên 100.000 m². Đồng thời, TP Hồ Chí Minh cũng chưa có cảng hành khách tàu biển chuyên dụng và các bến nội địa phục vụ khách du lịch. Đây là những hạ tầng cần được nghiên cứu đầu tư nếu muốn khai thác tốt hơn các phân khúc khách tàu biển và khách MICE.
Bên cạnh hạ tầng, việc thu hút đầu tư vào các dự án động lực, nhất là tại những khu vực có giá trị sinh thái đặc biệt như Cần Giờ và Côn Đảo, cũng được xác định là một nhiệm vụ cần ưu tiên.
Quản trị du lịch bằng dữ liệu và AI
Một bước chuyển quan trọng khác là thay đổi phương thức quản trị, từ kinh nghiệm và dữ liệu phân tán sang quản trị dựa trên dữ liệu.
Nghị quyết số 26-NQ/TW xác định nâng cao năng lực quản trị du lịch theo hướng hiện đại, ứng dụng công nghệ số, quản trị theo dữ liệu gắn với quy hoạch không gian phát triển và bảo tồn, phát huy giá trị tài nguyên. Đồng thời, Nghị quyết cũng đặt ra nhóm nhiệm vụ về đẩy mạnh khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển du lịch thông minh.
Trên cơ sở đó, ngành du lịch TP Hồ Chí Minh từng bước kết nối, khai thác dữ liệu từ cơ sở lưu trú, doanh nghiệp lữ hành, điểm tham quan và các nguồn dữ liệu phù hợp để phân tích dòng khách, nhu cầu và hành vi tiêu dùng. AI và các công cụ dự báo cũng được định hướng ứng dụng trong hoạt động xúc tiến, qua đó hỗ trợ lựa chọn thị trường, phân khúc và sản phẩm phù hợp hơn.
TP Hồ Chí Minh tăng cường liên kết để quản trị hệ sinh thái du lịch
Mục tiêu đến hết năm 2028, ngành du lịch thành phố phấn đấu hoàn thành cơ sở dữ liệu du lịch kết nối với cơ sở dữ liệu và nền tảng số du lịch quốc gia; cũng như số hóa 100% dữ liệu tài nguyên và điểm đến để phục vụ hoạch định chính sách và đầu tư phát triển.
Công nghệ không chỉ được sử dụng cho công tác quản lý mà còn hướng đến trực tiếp trải nghiệm của du khách. Thành phố định hướng tiếp tục số hóa tài nguyên, điểm đến và sự kiện; phát triển bản đồ du lịch tương tác, công cụ 3D/360 độ, trợ lý ảo đa ngôn ngữ, mã QR, thuyết minh tự động và các giải pháp số giúp du khách tra cứu thông tin, xây dựng hành trình và tiếp cận dịch vụ thuận tiện hơn.
Đối với hạ tầng dữ liệu và nền tảng số dùng chung cấp thành phố, Sở Du lịch thực hiện theo định hướng chung và phối hợp với các cơ quan chuyên môn có thẩm quyền. Ngành du lịch tập trung khai thác công nghệ phục vụ quản lý điểm đến, phát triển thị trường, sản phẩm và nâng cao trải nghiệm du khách.
Một điểm nghẽn khác nằm ở khả năng điều phối giữa các ngành và giữa các địa phương. Du lịch có mối liên hệ trực tiếp với hàng không, giao thông, văn hóa, y tế, công thương và nhiều lĩnh vực khác, do đó, việc điều phối liên ngành có vai trò quyết định trong xây dựng điểm đến linh hoạt, hấp dẫn và bắt kịp xu hướng du lịch của khu vực, thế giới.
Trong không gian phát triển mới, các dòng khách không còn chỉ gắn với một điểm đến riêng lẻ mà cần được tổ chức thành những hành trình kết nối đô thị, sông nước, biển đảo và các sản phẩm bổ trợ. Vậy nên việc chuyển từ quản lý từng hoạt động riêng lẻ sang quản trị hệ sinh thái và chuỗi giá trị du lịch được xem là hướng đi cần thiết để huy động tốt hơn nguồn lực xã hội, đồng thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển những sản phẩm và dự án có chất lượng cao.
Cùng với thay đổi cách quản trị, TP Hồ Chí Minh cũng chuyển cách đánh giá hiệu quả phát triển du lịch. Bộ chỉ tiêu được xây dựng theo bốn nhóm, trong đó lượng khách chỉ là một chỉ tiêu chứ không còn là chỉ tiêu trung tâm.
Nhóm thứ nhất là hiệu quả kinh tế, với mục tiêu tổng thu từ khách du lịch đạt 684.000 tỷ đồng vào năm 2030, tương đương khoảng 25 tỷ USD; du lịch đóng góp 12% GRDP của thành phố. Các chỉ tiêu này sẽ được phân bổ theo từng năm để làm căn cứ xây dựng kế hoạch hành động.
Nhóm thứ hai là chất lượng trải nghiệm, gồm thời gian lưu trú bình quân, mức chi tiêu bình quân theo từng phân khúc và chỉ số hài lòng của du khách.
Nhóm thứ ba là năng lực của điểm đến, gồm số buồng lưu trú và tỷ trọng buồng 4 - 5 sao; số doanh nghiệp du lịch có thương hiệu mạnh và sức cạnh tranh quốc tế đặt trụ sở tại thành phố; số sự kiện thương hiệu và sự kiện quốc tế được đăng cai hằng năm; cùng số việc làm mà ngành tạo ra.
Nhóm thứ tư là phát triển bền vững và chuyển đổi số, gồm tỷ lệ khu, điểm du lịch trọng điểm áp dụng bộ tiêu chí du lịch xanh; tiến độ hoàn thành cơ sở dữ liệu du lịch và mức độ số hóa dữ liệu tài nguyên, điểm đến.
Như vậy, cùng với việc đặt mục tiêu tăng tổng thu và đóng góp vào GRDP, TP Hồ Chí Minh đang từng bước xây dựng hệ thống đo lường rộng hơn, phản ánh cả chất lượng trải nghiệm, năng lực điểm đến, mức độ chuyển đổi số và tính bền vững. Đây cũng là cơ sở để ngành du lịch chuyển từ mục tiêu đơn thuần “đón nhiều khách” sang mục tiêu “tạo nhiều giá trị hơn từ mỗi du khách và từ toàn bộ hệ sinh thái du lịch”, phù hợp yêu cầu chuyển mạnh tư duy phát triển du lịch theo hướng chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng.
Nguyễn Trang