Theo TS. Cấn Văn Lực, việc Ngân hàng Nhà nước chưa nới room tăng trưởng tín dụng bắt nguồn từ hai nguyên nhân là lo ngại lạm phát, thanh khoản hệ thống ngân hàng. Trong bối cảnh lạm phát chủ yếu do chi phí đẩy, nếu chúng ta có thể kiểm soát giá xăng dầu và giá heo thì có thể tự tin kiểm soát được lạm phát dưới 4%.
Mới đây, tại Tọa đàm: “Phát triển nguồn vốn cho bất động sản: Dư địa và gợi ý các giải pháp bền vững”, trả lời câu hỏi của độc giả về việc Vì sao Ngân hàng Nhà nước chưa nới room tăng trưởng tín dụng?, TS. Cấn Văn Lực Thành viên Hội đồng Tư vấn - Chính sách Tiền tệ Quốc gia cho biết, việc này bắt nguồn từ hai nguyên nhân là lo ngại lạm phát, thanh khoản hệ thống ngân hàng.
“Trong bối cảnh lạm phát chủ yếu do chi phí đẩy, nếu chúng ta có thể kiểm soát giá xăng dầu và giá heo thì có thể tự tin kiểm soát được lạm phát dưới 4%. Do đó, không nên quá lo ngại về lạm phát mà bóp nghẹt thị trường để có thể tận dụng được cơ hội phục hồi. Khi cả thế giới đang đối mặt với lạm phát thì chúng ta đã kiểm soát được, đó là một cơ hội rất tốt.” TS. Cấn Văn Lực đánh giá.
TS. Cấn Văn Lực Thành viên Hội đồng Tư vấn - Chính sách Tiền tệ Quốc gia.
Ngoài ra, thanh khoản hệ thống ngân hàng hiện nay hoàn toàn trong khả năng kiểm soát. Tỷ lệ cho vay so với vốn lưu động trong thị trường theo tính toán sơ bộ đến thời điểm hiện nay là 92%, vẫn ở mức an toàn. Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn hiện nay 25,2% và ngưỡng cho phép của Ngân hàng Nhà nước bắt đầu từ 1/10 năm nay là 34%, tức là vẫn trong tầm kiểm soát.
Theo TS. Cấn Văn Lực, dòng vốn trung và dài hạn chảy vào hệ thống các ngân hàng đang mạnh hơn đặc biệt là từ tháng 6,7,8. Tỷ trọng vốn ngắn hạn và trung dài hạn hiện nay đã khác không còn ở tỷ lệ 20% - 80% như trước đây mà đã cải thiện hơn rất nhiều.
“Về chuyện nới room, nếu chờ đợi đến quý IV, tôi cho rằng hơi muộn và có thể sẽ mất cơ hội. Ngân hàng Nhà nước cần lưu ý đến vấn đề này và theo tôi nên xem xét trong tháng tới, bởi nếu không khơi thông sớm sẽ bị mất cơ hội, tăng nợ đọng lẫn nhau cực kỳ nguy hiểm và nợ xấu ngân hàng tăng lên.” TS. Lực đánh giá.
Lưu ý thêm rằng nhu cầu vốn tín dụng trong năm nay tăng trưởng cao gắn với nhu cầu thực hơn so với trước rất nhiều do nền kinh tế phục hồi, sản xuất kinh doanh được đẩy mạnh, doanh nghiệp có nhu cầu vốn để hoạt động.
Trước đó, tại buổi thảo luận về giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, thúc đẩy phục hồi nhanh và phát triển bền vững do Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì diễn ra vào đầu tháng 8 mới đây, đại diện Ngân hàng Nhà nước cho biết, trong bối cảnh kinh tế biến động khó lường, điều quan trọng nhất là phải kiên định với mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và thực hiện các giải pháp hỗ trợ cho nền kinh tế.
Đối với hoạt động ngân hàng, mục tiêu điều hành của ngành ngân hàng là phải đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu chi trả cho người dân. Tại chương trình thảo luận, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng cũng đã chia sẻ thông tin về một số nội dung, ý kiến dư luận quan tâm liên quan đến ngành ngân hàng.
Việc từ chối cho vay đối với khách hàng không hẳn là do hết room mà còn có thể do phải đảm bảo các tỷ lệ an toàn, hoặc một số ngân hàng xếp hạng thấp không được tăng trưởng tín dụng cao. (Ảnh minh họa)
Về vấn đề tăng trưởng tín dụng (đặc biệt là vấn đề nới room tín dụng), nhiều ý kiến cho rằng nên cân nhắc điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng lên 15%, 16%. Thống đốc cho biết, năm 2022, khi xây dựng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng, lúc đó là thời điểm nền kinh tế chưa phục hồi nhanh, Ngân hàng Nhà nước đã đưa chỉ tiêu 14%, cao hơn 13,6% năm 2021 và 12,17% của năm 2020, như vậy đã là để tạo dư địa để thúc đẩy phục hồi.
Đến nay, diễn biến rất khác, nền kinh tế của Việt Nam đã phục hồi khá mạnh mẽ, riêng tăng trưởng quý 2 tăng 7,72%, tính chung 6 tháng tăng là 6,42%. Từ nay đến cuối năm, Chính phủ chỉ đạo đẩy mạnh các gói phục hồi, cũng như đẩy mạnh đầu tư công. Như vậy, tới đây sẽ có dòng tiền ra để hỗ trợ kinh tế. Ngân hàng Nhà nước cho rằng với điều hành chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng trong bối cảnh lạm phát này thì không thể chủ quan được, nên trước mắt, Ngân hàng Nhà nước vẫn điều hành theo chỉ tiêu 14%.
Ngoài ra, Thống đốc cũng thông tin thêm, tỷ lệ tín dụng trên GDP của Việt Nam theo đánh giá của WB là cao nhất thế giới, 124% (theo GDP mới), tỷ lệ tín dụng trên huy động vốn đã là 99%, nghĩa là huy động 100 đồng đã cho vay 99 đồng. Do đó, nếu nới room tín dụng thì có thể nguy cơ cuộc đua lãi suất sẽ quay trở lại.
Về thị trường bất động sản đang gặp phải vấn đề ách tắc dòng tiền: Thời gian qua, một số ngân hàng phản ánh hết "room" tín dụng là do tăng tín dụng quá nhanh trong 6 tháng đầu năm. Việc từ chối cho vay đối với khách hàng không hẳn là do hết room mà còn có thể do phải đảm bảo các tỷ lệ an toàn, hoặc một số ngân hàng xếp hạng thấp không được tăng trưởng tín dụng cao...
Quan điểm của Ngân hàng Nhà nước là nguồn vốn cho thị trường bất động sản có rất nhiều kênh khác nhau, từ nguồn FDI, huy động từ thị trường chứng khoán, từ phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ…, tín dụng chỉ là một kênh huy động vốn.
Theo Ngân hàng Nhà nước, dư nợ tín dụng bất động sản đến cuối tháng 6/2022 đạt trên 2,36 triệu tỷ đồng, chiếm 20,74% tổng tín dụng toàn hệ thống và tăng 14,07% so với cuối năm 2021, cao hơn tăng trưởng tín dụng chung của toàn hệ thống và cùng kỳ các năm trước.
Tín dụng ngân hàng chỉ giải quyết được các vấn đề trước mắt, tạm thời đối với thị trường bất động sản về nguồn vốn cho sự phát triển của thị trường này. Về lâu dài, để phát triển thị trường bất động sản lành mạnh, bền vững cần có các giải pháp đồng bộ để khơi thông nguồn vốn đa dạng, an toàn, hiệu quả, hỗ trợ thị trường bất động sản.
Hơn nữa, bản chất của thị trường bất động sản là vay trung dài hạn, tiền gửi ngân hàng ngắn hạn là chủ yếu, chiếm đến 80%. Cho nên nếu giải quyết ách tắc dòng tiền của bất động sản bằng việc nới room tín dụng thì chỉ được trước mắt, về dài hạn là rủi ro cho ngân hàng.
Với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước đã triển khai đồng bộ các giải pháp, chính sách nhằm kiểm soát chặt chẽ tín dụng chảy vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro thời gian qua, thông qua việc thường xuyên rà soát, hoàn thiện văn bản pháp lý về tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng (trong đó có lộ trình điều chỉnh giảm dần tỷ lệ tối đa vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung dài hạn), tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động cấp tín dụng của các ngân hàng, đặc biệt là tín dụng bất động sản.
Hồng Quang