Xuất khẩu dệt may Việt Nam trong quý I/2026 ghi nhận tăng trưởng nhẹ, cho thấy tín hiệu phục hồi sau giai đoạn trầm lắng. Tuy nhiên, phía sau con số tích cực là hàng loạt áp lực ngày càng lớn từ các thị trường chủ lực, đặc biệt liên quan đến thuế quan, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu truy xuất nguồn gốc, đặt ra thách thức không nhỏ cho mục tiêu tăng trưởng của toàn ngành trong năm nay.
Đơn hàng phục hồi nhưng nền tảng còn nhiều thách thức
Theo Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS), kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam trong quý I/2026 ước đạt 10,5 tỷ USD, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm 2025. Riêng tháng 3/2026, xuất khẩu đạt gần 3,9 tỷ USD, tăng mạnh so với tháng trước và tăng 5,8% so với cùng kỳ, cho thấy tín hiệu phục hồi rõ nét sau giai đoạn trầm lắng đầu năm.
Ông Vũ Đức Giang - Chủ tịch VITAS cho biết, năm 2025 toàn ngành đạt kim ngạch khoảng 41,6 tỷ USD, với sản phẩm dệt may Việt Nam đã có mặt tại 138 thị trường. Trong đó, Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất, chiếm khoảng 41 - 42% tổng kim ngạch. Tuy nhiên, xuất khẩu trong hai tháng đầu năm 2026 từng giảm nhẹ 0,7% trước khi phục hồi trong tháng 3, phản ánh rõ yếu tố mùa vụ và tác động từ bất ổn thương mại toàn cầu.
Xuất khẩu dệt may duy trì đà tăng trong quý I. (Ảnh minh hoạ/TL)
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Bùi Việt Quang - Tổng giám đốc CTCP May Sông Hồng (Mã: MSH) cho biết sức mua tại các thị trường xuất khẩu vẫn chưa thực sự khởi sắc, song Việt Nam vẫn là điểm đến ưu tiên của nhiều khách hàng nhờ lợi thế ổn định trong bối cảnh rủi ro địa chính trị gia tăng. Hiện đơn hàng của nhiều doanh nghiệp đã được lấp đầy đến khoảng tháng 7 - 8, nhưng triển vọng từ quý IV vẫn còn bỏ ngỏ.
Trong khi đó, tổng kim ngạch nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may quý I giảm 5,5% xuống còn khoảng 5,6 tỷ USD, với nhập khẩu vải giảm 7% và bông giảm gần 15%. Theo VITAS, điều này cho thấy doanh nghiệp đang chủ động kiểm soát chi phí đầu vào, song cũng phản ánh thực tế ngành vẫn phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu.
Tỷ lệ nội địa hóa hiện chỉ đạt khoảng 51 - 52%, trong khi riêng năm 2025 ngành đã chi tới 17 tỷ USD để nhập khẩu vải. Đây là rào cản lớn khiến doanh nghiệp khó tận dụng tối đa ưu đãi từ các hiệp định thương mại như CPTPP và EVFTA do chưa đáp ứng đầy đủ quy tắc xuất xứ.
Ông Trương Văn Cẩm (Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký VITAS) nhận định áp lực từ các quy định về truy xuất nguồn gốc, thẩm định chuỗi cung ứng và yêu cầu báo cáo ESG đang gia tăng, buộc doanh nghiệp phải có sự chuẩn bị bài bản hơn nếu muốn duy trì lợi thế cạnh tranh.
Mục tiêu 49 tỷ USD đối mặt áp lực thuế và chi phí
Năm 2026, ngành dệt may đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt 49 tỷ USD, tăng 6,5% so với năm trước. Tuy nhiên, theo ông Vũ Đức Giang, doanh nghiệp đang phải đối mặt với áp lực ngày càng lớn từ thuế quan, giá bán và tiến độ giao hàng.
Xu hướng đơn hàng nhỏ, yêu cầu giao nhanh hơn khiến chi phí sản xuất và logistics gia tăng, từ đó làm thu hẹp biên lợi nhuận. Bên cạnh đó, các tiêu chuẩn xanh do từng nhãn hàng đưa ra chưa đồng bộ, khiến doanh nghiệp gặp khó trong việc đầu tư khi mỗi thị trường lại có bộ tiêu chí riêng.
Theo báo cáo của SSI Research, rủi ro từ chính sách thuế quan vẫn là yếu tố đáng lưu ý, đặc biệt nếu Hoa Kỳ áp dụng lại mức thuế đối ứng cao. Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các doanh nghiệp phụ thuộc lớn vào thị trường xuất khẩu này.
Ở cấp độ doanh nghiệp, ông Bùi Đức Thịnh - Chủ tịch HĐQT CTCP May Sông Hồng cho rằng chính sách thuế là nỗi lo lớn nhất, nhất là khi doanh thu của công ty phụ thuộc nhiều vào thị trường Mỹ.
Dù vậy, triển vọng không hoàn toàn tiêu cực. Theo đánh giá của SSI Research, sự dịch chuyển đơn hàng sang khu vực châu Á, đặc biệt là Trung Quốc và ASEAN, có thể giúp bù đắp một phần áp lực chi phí. Tuy nhiên, sự phân hóa trong ngành sẽ ngày càng rõ nét khi các doanh nghiệp theo mô hình FOB/ODM có lợi thế hơn, trong khi doanh nghiệp gia công CMT tiếp tục chịu sức ép về lợi nhuận.
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều bất định, ông Lê Tiến Trường - Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex), Chủ tịch HĐQT May Hưng Yên cho rằng, doanh nghiệp cần chủ động tận dụng cơ hội đơn hàng, linh hoạt tổ chức sản xuất và tối ưu nguồn nhân lực. Việc mở rộng độ tuổi lao động, kết hợp ứng dụng công nghệ để nâng cao năng suất cũng được xem là hướng đi cần thiết nhằm duy trì đà tăng trưởng.
Nhật Hạ