14:46 01/10/2026

Xuất khẩu gạo: Nới cửa gia nhập, siết chuẩn doanh nghiệp

Từ ngày 1/10, quy định mới mở rộng cơ hội gia nhập thị trường xuất khẩu gạo, nhưng đồng thời đặt doanh nghiệp trước yêu cầu cao hơn về hạ tầng, minh bạch, liên kết và uy tín. Trong bối cảnh giá gạo còn chịu sức ép, cuộc cạnh tranh đang chuyển hướng.

Nới điều kiện, mở thêm dư địa

Nghị định 365/2026/NĐ-CP về kinh doanh xuất, nhập khẩu gạo chính thức có hiệu lực từ ngày 1/10/2026, thay thế Nghị định 107/2018/NĐ-CP và Nghị định 01/2025/NĐ-CP. Điểm đáng chú ý là điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo được cắt giảm từ 3 xuống còn 2 điều kiện.

Theo quy định mới, thương nhân muốn kinh doanh xuất khẩu gạo cần có ít nhất một kho chuyên dùng chứa thóc, gạo và một cơ sở xay xát đáp ứng quy định về an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Hai cơ sở này có thể thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc được thuê, miễn có hợp đồng bằng văn bản và thời hạn phù hợp với Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo.

Việc bỏ một điều kiện so với khung pháp lý trước đây được đánh giá là bước nới đáng chú ý đối với các doanh nghiệp muốn tham gia thị trường. Đặc biệt, việc cho phép thuê kho và cơ sở xay xát thay vì buộc doanh nghiệp phải tự sở hữu toàn bộ hạ tầng giúp giảm nhu cầu vốn đầu tư ban đầu.

Xuất khẩu gạo Nới cửa gia nhập siết chuẩn doanh nghiệp
Ảnh minh họa (nguồn:VPG)

Đáng chú ý hơn, Nghị định 365 dành cơ chế thuận lợi cho nhóm gạo hữu cơ, gạo đồ và gạo bổ sung vi chất dinh dưỡng. Thương nhân xuất khẩu các sản phẩm này không phải đáp ứng điều kiện về kho chuyên dùng và cơ sở xay xát để được cấp Giấy chứng nhận; đồng thời được miễn yêu cầu dự trữ lưu thông và chế độ báo cáo định kỳ như nhóm gạo thông thường.

Đây là thay đổi có ý nghĩa trong bối cảnh thị trường gạo đang chuyển dần từ cạnh tranh đơn thuần về sản lượng sang cạnh tranh về chất lượng và giá trị gia tăng.

Thực tế, 8 tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 6,03 triệu tấn gạo, trị giá gần 2,91 tỷ USD, giảm 5% về lượng và 10,7% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Giá xuất khẩu bình quân đạt khoảng 481,5 USD/tấn, giảm 5,9%.

Khoảng cách giữa sản lượng và kim ngạch cho thấy một vấn đề rõ ràng: xuất khẩu nhiều hơn không đồng nghĩa doanh nghiệp thu về giá trị cao hơn. Trong tháng 7, giá xuất khẩu bình quân đã đạt 511 USD/tấn, tăng 5,8% so với cùng kỳ và là lần đầu trong năm vượt mức cùng kỳ năm 2025. Tuy nhiên, đến giữa tháng 9, giá gạo xuất khẩu Việt Nam vẫn chỉ quanh 440-445 USD/tấn, cho thấy thị trường chưa thực sự bước vào một chu kỳ tăng giá bền vững.

Theo VFA, xuất khẩu cả năm 2026 được dự kiến khoảng 7,738 triệu tấn; Bộ Nông nghiệp và Môi trường dự báo kim ngạch khoảng 3,94 tỷ USD, thấp hơn khoảng 4% so với năm 2025.

Trong bối cảnh đó, việc giảm rào cản gia nhập có thể tạo thêm không gian cho những doanh nghiệp có mô hình kinh doanh linh hoạt, đặc biệt là các doanh nghiệp tập trung vào sản phẩm gạo chuyên biệt và phân khúc giá trị cao.

Nới cửa gia nhập nhưng nâng chuẩn cao hơn

Nếu việc giảm điều kiện giúp doanh nghiệp dễ bước vào thị trường hơn thì các quy định về tín nhiệm lại cho thấy một hướng quản lý khác: thị trường có thể mở rộng về số lượng người tham gia, nhưng tiêu chuẩn để trở thành doanh nghiệp có vị thế trong chuỗi xuất khẩu sẽ ngày càng cao.

Nghị định 365 quy định từ ngày 1/1/2028 sẽ thực hiện đánh giá mức độ tín nhiệm thương nhân theo 10 nhóm tiêu chí. Các tiêu chí bao gồm tín dụng, thuế, hải quan, liên kết sản xuất và bao tiêu, xây dựng thương hiệu, kết quả xuất khẩu, thực hiện chế độ báo cáo và dự trữ lưu thông, hệ thống kho - logistics, cũng như các yêu cầu về an toàn, phòng cháy chữa cháy và phòng chống thiên tai.

Đáng chú ý, mức độ tín nhiệm không chỉ mang tính đánh giá tuân thủ. Đây còn là một tiêu chí để lựa chọn thương nhân đầu mối giao dịch và phân bổ hợp đồng tập trung. Như vậy, về dài hạn, lợi thế có thể không chỉ nằm ở việc doanh nghiệp "đủ điều kiện xuất khẩu", mà còn nằm ở năng lực vận hành, lịch sử tuân thủ, khả năng liên kết vùng nguyên liệu và chất lượng hệ thống logistics.

Điều này đặc biệt quan trọng khi thị trường xuất khẩu gạo Việt Nam vẫn tập trung tương đối lớn vào một số thị trường. Theo số liệu 8 tháng, Philippines chiếm khoảng 43,2% lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam, Trung Quốc khoảng 18,4% và Ghana khoảng 11%. Trong khi xuất khẩu sang Trung Quốc tăng mạnh, giá trị xuất khẩu sang Philippines và Ghana lại giảm.

Philippines tiếp tục là thị trường đặc biệt quan trọng. Theo thông tin từ VFA, nước này được dự báo nhập khoảng 5 triệu tấn gạo trong năm 2026; đến ngày 13/8 đã nhập 3,46 triệu tấn, trong đó gạo Việt Nam chiếm khoảng 74% nguồn cung. Tuy nhiên, nhu cầu cao trong năm nay có thể không phản ánh hoàn toàn xu hướng dài hạn, khi lượng nhập khẩu của Philippines dự kiến trở về khoảng 3,8-4 triệu tấn vào năm 2027.

Bên cạnh đó, Philippines cũng đang thay đổi các yêu cầu đối với gạo nhập khẩu. Bộ Công Thương đã phải tổ chức đoàn công tác liên ngành làm việc với các cơ quan Philippines trong tháng 8 để trao đổi về thương mại gạo, trong bối cảnh nước này khởi xướng điều tra tự vệ đối với gạo nhập khẩu.

Những diễn biến này cho thấy doanh nghiệp Việt Nam không thể chỉ dựa vào lợi thế nguồn cung hay giá bán thấp. Các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, dư lượng, chất lượng và khả năng đáp ứng quy định của từng thị trường đang ngày càng tác động trực tiếp tới khả năng ký và duy trì hợp đồng.

Từ góc độ ngành hàng, Bộ Công Thương từng nhấn mạnh tại hội nghị thúc đẩy xuất khẩu gạo năm 2026 rằng biến động logistics, chi phí vận tải, chính sách thương mại và dự trữ lương thực của các nước đang tác động mạnh đến cung - cầu và giá gạo thế giới. Đại diện doanh nghiệp cũng kiến nghị cần minh bạch tiêu chí đánh giá doanh nghiệp, đồng thời tăng khả năng tiếp cận tín dụng để phục vụ thu mua, dự trữ và xuất khẩu.

Với doanh nghiệp, bài toán sau ngày 1/10 vì thế có hai vế. Một mặt, rào cản gia nhập giảm giúp thị trường năng động hơn. Mặt khác, khi số lượng thương nhân có thể tăng, cạnh tranh về khách hàng, vùng nguyên liệu và hợp đồng xuất khẩu cũng có thể gay gắt hơn.

Doanh nghiệp có thể tận dụng quy định mới để giảm chi phí đầu tư cố định bằng hình thức thuê kho, xay xát; đồng thời phát triển các dòng gạo hữu cơ, gạo đồ, gạo bổ sung vi chất. Nhưng để đi xa hơn, trọng tâm sẽ phải chuyển sang xây dựng vùng nguyên liệu, liên kết với nông dân, kiểm soát chất lượng, đầu tư thương hiệu và logistics.

Đây cũng là hướng phù hợp với diễn biến thị trường. Theo phân tích được đăng tải trên hệ thống thông tin của ngành nông nghiệp, khi nguồn cung toàn cầu vẫn tương đối dồi dào, cạnh tranh về giá ngày càng gay gắt, dư địa tăng sản lượng không còn nhiều, ngành gạo Việt Nam cần chuyển từ tư duy "bán được nhiều" sang nâng giá trị trên mỗi tấn thông qua chất lượng, thương hiệu và đa dạng hóa thị trường.

Quy định mới đang mở thêm cánh cửa cho doanh nghiệp bước vào thị trường gạo, nhưng cũng báo hiệu một cuộc cạnh tranh dựa nhiều hơn vào uy tín, chất lượng và năng lực chuỗi cung ứng. Khi lợi thế giá ngày càng mong manh, câu hỏi lớn sẽ là ai đủ sức giữ giá trị cho hạt gạo Việt.

Phượng Hòa