8 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu gạo Việt Nam ước đạt 6,03 triệu tấn, trị giá gần 2,91 tỷ USD, giảm 5% về lượng và 10,7% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Trong khi các thị trường nhập khẩu lớn điều chỉnh chính sách, giá lúa trong nước chịu sức ép vào thời điểm nguồn cung tăng, ngành gạo đang đứng trước yêu cầu giữ thị trường và nâng chất lượng.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, giá xuất khẩu gạo bình quân 8 tháng đầu năm 2026 ước đạt 481,5 USD/tấn, giảm 5,9% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, diễn biến từ tháng 7 đã xuất hiện tín hiệu tích cực khi giá xuất khẩu bình quân đạt 511 USD/tấn, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước. Đây là lần đầu trong năm giá xuất khẩu bình quân tăng so với cùng kỳ, qua đó tạo thêm kỳ vọng cho kim ngạch những tháng cuối năm.
Dù vậy, triển vọng của ngành gạo vẫn chịu tác động từ sự thay đổi trong chính sách nhập khẩu của các thị trường chủ lực, đặc biệt là Philippines. Trong khi đó, tại Đồng bằng sông Cửu Long, giá lúa và gạo nguyên liệu đang có xu hướng hạ nhiệt khi bước vào giai đoạn nguồn cung tăng.
Philippines giảm mua, áp lực dồn lên gạo Việt
Những tín hiệu giảm tốc của xuất khẩu gạo Việt Nam thể hiện rõ trong các tháng gần đây. Theo số liệu của Cục Hải quan Việt Nam, tính đến ngày 15/8, Việt Nam xuất khẩu khoảng 5,7 triệu tấn gạo, thu về 2,73 tỷ USD, giảm 2,4% về lượng và 8,7% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2025.
Riêng 15 ngày đầu tháng 8, lượng gạo xuất khẩu đạt 230.273 tấn, trị giá 118,4 triệu USD, giảm lần lượt 36,5% về lượng và 34% về kim ngạch so với cùng kỳ. Trước đó, tháng 7 cũng ghi nhận mức sụt giảm đáng kể khi Việt Nam xuất khẩu 471.814 tấn gạo, thu về 241,1 triệu USD, giảm 37,6% về lượng và 35,8% về kim ngạch so với tháng 6. So với cùng kỳ tháng 7/2025, lượng xuất khẩu giảm 40% và kim ngạch giảm 36,5%.
Xuất khẩu gạo Việt Nam đang chịu sức ép từ sự thay đổi chính sách nhập khẩu của các thị trường lớn, trong khi giá lúa trong nước có xu hướng hạ nhiệt khi nguồn cung tăng.
Một trong những nguyên nhân quan trọng là nhu cầu từ Philippines, thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất của Việt Nam, có dấu hiệu suy yếu. Trong tháng 7, lượng gạo Việt Nam xuất khẩu sang Philippines chỉ đạt 147.903 tấn, giảm 57,7% so với tháng trước và giảm 54,9% so với cùng kỳ năm 2025. Đây cũng là mức thấp nhất ghi nhận từ đầu năm.
Dù lượng mua trong tháng 7 giảm mạnh, Philippines vẫn giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với ngành gạo Việt Nam. Trong 7 tháng đầu năm, nước này nhập khoảng 2,54 triệu tấn gạo từ Việt Nam, trị giá 1,13 tỷ USD, chiếm 46,2% tổng khối lượng xuất khẩu. Lượng xuất khẩu sang thị trường này vẫn tăng 4,4% so với cùng kỳ, nhưng giá trị giảm 5,1%, cho thấy áp lực về giá đang ngày càng rõ hơn.
Đáng chú ý, Philippines đang thay đổi chính sách nhập khẩu theo hướng thận trọng hơn để hỗ trợ sản xuất trong nước. Từ đầu tháng 7, Bộ Nông nghiệp Philippines ngừng cấp phép nhập khẩu gạo 5% tấm, thay vào đó cho phép nhập khẩu gạo 25% tấm hoặc những loại có tỷ lệ tấm cao hơn, trong bối cảnh nước này chuẩn bị bước vào vụ thu hoạch mới dự kiến trong tháng 9-10.
Philippines mới đây cho biết chưa áp dụng lệnh cấm nhập khẩu gạo trong năm nay nhằm chủ động ứng phó với nguy cơ El Niño cực đoan vào quý IV. Tuy nhiên, các biện pháp kiểm soát nhập khẩu vẫn tạo sức ép đối với các nhà cung cấp nước ngoài. Nước này cũng đang xem xét các biện pháp bảo vệ sản xuất trong nước, trong đó có khả năng điều tra áp dụng biện pháp tự vệ đối với gạo nhập khẩu và đề xuất nâng thuế nhập khẩu từ 15% lên tối thiểu 28%.
Trong khi đó, cạnh tranh tại thị trường Philippines ngày càng rõ. Trong 7 tháng đầu năm, Philippines nhập khoảng 3,27 triệu tấn gạo, tăng gần 27% so với cùng kỳ và gần tương đương tổng lượng nhập khẩu cả năm 2025. Việt Nam vẫn là nhà cung cấp lớn nhất với khoảng 2,53 triệu tấn, tương đương 77% tổng lượng gạo Philippines nhập khẩu, nhưng thị phần đã giảm so với mức 81,5% của cả năm 2025. Thái Lan và Campuchia đều gia tăng thị phần tại thị trường này.
Sự thay đổi tại Philippines cho thấy mức độ phụ thuộc lớn vào một thị trường có thể trở thành điểm yếu khi chính sách nhập khẩu thay đổi. Đây cũng là lý do yêu cầu đa dạng hóa thị trường và nâng tỷ trọng các dòng gạo chất lượng cao ngày càng trở nên cấp thiết đối với doanh nghiệp Việt Nam.
Dù vậy, bức tranh xuất khẩu không hoàn toàn kém tích cực. Trung Quốc đang trở thành điểm sáng khi trong 7 tháng đầu năm, Việt Nam xuất khẩu khoảng 977.639 tấn gạo sang thị trường này, trị giá 483,2 triệu USD, tăng lần lượt 96,8% về lượng và 92,2% về kim ngạch so với cùng kỳ. Một số thị trường như Australia và Saudi Arabia cũng ghi nhận mức tăng về lượng, trong khi xuất khẩu sang Iraq tăng rất mạnh.
Việc các thị trường khác gia tăng nhập khẩu cho thấy dư địa mở rộng đầu ra của gạo Việt Nam vẫn còn. Vấn đề là doanh nghiệp cần tận dụng những thị trường này để phân tán rủi ro, thay vì tiếp tục phụ thuộc quá lớn vào một số khách hàng truyền thống.
Giá lúa trong nước hạ nhiệt, bài toán giữ vùng nguyên liệu
Sức ép từ thị trường xuất khẩu đang dần phản ánh vào giá lúa và gạo nguyên liệu trong nước. Tính đến ngày 25/8, gạo nguyên liệu IR 50404 và CL 555 cùng dao động 9.450-9.500 đồng/kg, giảm khoảng 300-400 đồng/kg so với cuối tháng 7.
Giá lúa tươi cũng giảm 100-200 đồng/kg. Lúa OM 18 và Đài Thơm 8 được thu mua ở mức 6.800-7.000 đồng/kg, OM 5451 ở mức 6.500-6.600 đồng/kg, OM 34 khoảng 6.000-6.100 đồng/kg và IR 50404 dao động 6.300-6.400 đồng/kg.
Trong một diễn biến khác, cập nhật của Sở Nông nghiệp và Môi trường An Giang cho thấy giá lúa trong tuần qua phần lớn đi ngang nhưng một số giống tiếp tục giảm. Lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 còn 6.600-6.700 đồng/kg, OM 5451 ở mức 6.500-6.600 đồng/kg, OM 34 khoảng 5.900-6.000 đồng/kg, trong khi IR 50404 duy trì 6.300-6.400 đồng/kg. Giá gạo nguyên liệu IR 504 và CL 555 ở mức 8.900-9.000 đồng/kg; OM 5451 khoảng 9.300-9.400 đồng/kg, Đài Thơm 8 ở mức 9.200-9.400 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, gạo 5% tấm của Việt Nam được chào giá 435-455 USD/tấn trong tuần kết thúc ngày 20/8, không thay đổi so với tuần trước và chỉ tăng khoảng 5 USD/tấn so với cuối tháng 7. Một số thương nhân cho rằng nhu cầu vẫn yếu do Philippines siết nhập khẩu, trong khi dư địa giảm giá của doanh nghiệp không còn nhiều vì biên lợi nhuận đã xuống thấp.
Trước tình hình này, Hiệp hội Lương thực Việt Nam đã cử đoàn công tác sang Philippines tìm giải pháp khôi phục hoạt động xuất khẩu. Đồng thời, Hiệp hội cũng kêu gọi doanh nghiệp duy trì thu mua lúa cho nông dân trong bối cảnh Đồng bằng sông Cửu Long bước vào vụ Hè Thu, khi nguồn cung tăng và giá có xu hướng đi xuống.
Tại cuộc họp Ban Chấp hành VFA ngày 31/7, Hiệp hội đề nghị doanh nghiệp tích cực thu mua lúa của nông dân. Với các giống lúa thơm như Đài Thơm 8,OM18, mức giá được đề nghị từ 7.000 đồng/kg trở lên, đồng thời ưu tiên giao dịch, ký kết và thực hiện các hợp đồng xuất khẩu gạo thơm từ 500 USD/tấn trở lên.
Đây không đơn thuần là câu chuyện hỗ trợ giá trong ngắn hạn. Việc duy trì thu mua có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng giữ vùng nguyên liệu và ổn định sản xuất. Khi nông dân chịu sức ép từ chi phí đầu vào cao trong khi giá lúa giảm vào thời điểm thu hoạch, việc đầu ra thiếu ổn định có thể ảnh hưởng đến quyết định sản xuất trong những vụ tiếp theo.
Ở chiều ngược lại, ngành gạo cũng đang đứng trước cơ hội khi giá xuất khẩu bắt đầu phục hồi từ tháng 7. Nếu xu hướng này được duy trì, doanh nghiệp có thêm dư địa cải thiện kim ngạch trong những tháng cuối năm. Theo dự báo, tổng giá trị xuất khẩu gạo Việt Nam năm 2026 có thể đạt khoảng 3,94 tỷ USD, giảm khoảng 4% so với năm 2025 do giá xuất khẩu bình quân những tháng đầu năm ở mức thấp.
Trên thị trường quốc tế, xu hướng giá tại một số nước xuất khẩu lớn cũng đang tạo ra những biến động đáng chú ý. Giá gạo 5% tấm của Thái Lan tăng lên 465 USD/tấn, trong khi gạo xuất khẩu của Ấn Độ tiếp tục tăng lên mức cao nhất trong khoảng một năm. Những biến động này cho thấy cạnh tranh về nguồn cung và giá đang diễn ra đồng thời tại các thị trường lớn.
Với Việt Nam, câu chuyện hiện nay vì vậy không chỉ là làm thế nào để tăng sản lượng xuất khẩu. Quan trọng hơn là nâng giá trị trên mỗi tấn gạo, mở rộng thị trường, tăng tỷ trọng các dòng gạo thơm và chất lượng cao, đồng thời củng cố mối liên kết giữa doanh nghiệp và vùng nguyên liệu.
Trong bối cảnh các quốc gia nhập khẩu ngày càng chú trọng an ninh lương thực và có xu hướng điều chỉnh chính sách theo hướng bảo hộ, ngành gạo Việt Nam khó có thể chỉ dựa vào lợi thế giá bán. Việc nâng chất lượng, ổn định nguồn nguyên liệu và đa dạng hóa thị trường sẽ quyết định khả năng duy trì vị thế trong dài hạn.
Những tháng cuối năm được kỳ vọng sẽ là giai đoạn quan trọng để ngành gạo tận dụng tín hiệu phục hồi về giá, đồng thời giảm tác động từ việc một số thị trường siết nhập khẩu. Nếu có thể chuyển dịch từ xuất khẩu dựa nhiều vào một vài thị trường lớn sang cơ cấu cân bằng hơn, cùng với việc giữ được giá trị cho cả doanh nghiệp và người trồng lúa, xuất khẩu gạo Việt Nam sẽ có thêm nền tảng để bước vào chu kỳ tăng trưởng bền vững hơn.
Đinh Toàn