Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản chín tháng năm 2026 vẫn tăng trưởng, nhưng không phải mặt hàng nào cũng đi lên cùng chiều. Cà phê là ví dụ rõ nhất: lượng hàng xuất đi tăng, kim ngạch lại giảm. Sau những chuyến hàng là câu hỏi về giá bán, cách tổ chức sản xuất và phần giá trị ở lại với người làm ra sản phẩm.
Nghịch lý sau con số tăng trưởng
Nếu chỉ nhìn vào kết quả chung, ngành nông nghiệp có lý do để lạc quan. Tại cuộc làm việc với các hiệp hội, doanh nghiệp ngày 25/9, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ước tính xuất khẩu nông, lâm, thủy sản chín tháng năm 2026 đạt 56,3 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ. Rau quả mang về khoảng 7,35 tỷ USD, tăng 19,9%; thủy sản đạt 9,17 tỷ USD, tăng 12,3%. Những ngành hàng này đang nâng đỡ đà tăng của toàn ngành.
Nhưng bức tranh sáng ấy có những mảng màu trầm. Cũng trong chín tháng, Việt Nam ước xuất khẩu 1,44 triệu tấn cà phê, nhiều hơn cùng kỳ 15,4%. Kim ngạch lại giảm 7,3%, còn 6,54 tỷ USD. Giá xuất khẩu bình quân giảm 19,7%. Hàng bán ra nhiều hơn mà tổng số tiền thu về ít hơn: nghịch lý nằm ngay trong ba con số đó.
Có thể hình dung, nếu lượng cà phê xuất đi cùng kỳ năm trước là 100 thì năm nay lên 115,4; còn kim ngạch lùi về 92,7. Phần hàng tăng thêm không đủ bù mức giảm của giá bình quân.
Gạo cũng chịu sức ép, song diễn biến không giống cà phê. Lượng gạo xuất khẩu chín tháng ước giảm 6,1%, còn khoảng 6,4 triệu tấn; kim ngạch giảm 10,9%, xuống 3,11 tỷ USD. Giá xuất khẩu bình quân khoảng 485 USD mỗi tấn, thấp hơn cùng kỳ 5,1%. Trường hợp này, cả lượng và giá đều giảm. Vì vậy, không thể gom mọi ngành hàng vào một nhận định rằng nông sản nói chung đang “bán nhiều hơn, thu ít hơn”.
Sản lượng xuất khẩu tăng nhưng giá bán lại giảm khiến kim ngạch xuất khẩu không cao
Sự khác biệt ấy quan trọng với doanh nghiệp và người sản xuất. Doanh thu xuất khẩu giảm không cho phép kết luận ngay lợi nhuận của từng doanh nghiệp hay thu nhập của từng hộ nông dân đã giảm tương ứng. Giá tại cảng xuất còn cách giá thu mua ở vùng nguyên liệu qua nhiều khâu và thời điểm giao dịch.
Dẫu vậy, số liệu cà phê vẫn là một tín hiệu không thể xem nhẹ. Khi giá bình quân giảm gần một phần năm, áp lực tìm thêm đơn hàng sẽ lớn hơn. Bán thêm có thể giúp giữ khách và duy trì hoạt động của nhà máy, nhưng không thể mở rộng mãi diện tích, sản lượng hay vốn thu mua để bù cho một mức giá thấp. Nếu mỗi lần thị trường biến động, phản ứng chủ yếu vẫn là xuất thêm nguyên liệu, ngành hàng sẽ tiếp tục phụ thuộc vào những dao động mà mình khó kiểm soát.
Theo tính toán của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, để chạm mục tiêu khoảng 74,2 tỷ USD của năm 2026, toàn ngành cần xuất khẩu thêm khoảng 17,91 tỷ USD trong ba tháng cuối năm, bình quân 5,97 tỷ USD mỗi tháng. Còn với từng mặt hàng, câu hỏi phải đi thêm một bước: lượng hàng tăng lên sẽ mang lại bao nhiêu giá trị?
Giữ lại nhiều hơn phần giá trị
Tại cuộc làm việc ngày 25/9, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc lưu ý thương hiệu cà phê Việt Nam chưa tương xứng với vị thế của một nước sản xuất lớn, trong khi phần giá trị đáng kể ở các khâu sau sản xuất vẫn thuộc về doanh nghiệp nước ngoài. Nhận xét này đưa câu chuyện vượt khỏi giá của một niên vụ. Hạt cà phê rời vùng trồng là điểm khởi đầu của một chuỗi còn có phân loại, chế biến, đóng gói, phát triển sản phẩm, phân phối và bán lẻ. Tham gia được càng ít công đoạn, khả năng giữ lại giá trị trong nước càng hạn chế.
Nói đến chế biến sâu, nhiều người nghĩ ngay đến cà phê rang xay, hòa tan hoặc đặc sản. Đó là những hướng đi có thể mở rộng đầu ra, nhưng không phải phép giải tức thì cho mọi doanh nghiệp. Muốn bán sản phẩm chế biến, họ cần nguồn nguyên liệu ổn định, kiểm soát chất lượng, hiểu thị hiếu khách hàng và có kênh đưa hàng tới người mua. Một nhà máy mới sẽ không tự tạo ra thị trường; một nhãn hiệu đẹp cũng khó đứng vững nếu các lô hàng không đồng đều.
Công nhân thu hoạch cafe. Nguồn: internet
Vì thế, thay đổi có thể bắt đầu từ một việc rất cụ thể: biết khách hàng cần gì trước khi tổ chức sản xuất. Vùng nguyên liệu cần được liên kết với đơn hàng, tiêu chuẩn thu hái, sơ chế và truy xuất nguồn gốc. Hợp tác xã có thể làm cầu nối để những hộ sản xuất nhỏ cùng đáp ứng yêu cầu về chất lượng và số lượng. Hợp đồng giữa doanh nghiệp với người trồng cũng cần đủ rõ về tiêu chuẩn và cách tính giá, để việc đầu tư chăm sóc tốt hơn đi kèm cơ hội nhận được giá trị tốt hơn.
Tại cuộc họp, các hiệp hội và doanh nghiệp còn nêu khó khăn về tín dụng theo mùa vụ, hoàn thuế giá trị gia tăng, thủ tục xuất khẩu và dữ liệu truy xuất. Đây không phải những việc đứng ngoài câu chuyện nâng giá trị. Một doanh nghiệp thiếu vốn đúng lúc cần thu mua nguyên liệu sẽ khó chủ động chọn thời điểm bán hoặc đầu tư cho sản phẩm mới. Dòng tiền bị chậm lại có thể khiến kế hoạch liên kết vùng trồng, nâng cấp chế biến phải lùi theo.
Tháo gỡ những vướng mắc ấy cần đi cùng thay đổi cách đánh giá thành công. Sản lượng và kim ngạch cho biết hàng hóa đi được bao xa; hiệu quả của doanh nghiệp và thu nhập của người sản xuất cho biết hành trình đó mang lại điều gì. Phó Thủ tướng đã yêu cầu nghiên cứu nhu cầu thị trường để tổ chức vùng nguyên liệu, chế biến và phân phối, đồng thời lấy hiệu quả xuất khẩu và thu nhập của người sản xuất làm thước đo.
Kết quả chín tháng của cà phê chưa nói trước cả năm sẽ khép lại ra sao. Nhưng nó cho thấy một giới hạn rất thật của tăng trưởng dựa vào lượng hàng: xuất khẩu thêm vẫn có thể thu về ít hơn. Khi chuyến hàng tiếp theo rời cảng, điều đáng chờ đợi không chỉ là thêm bao nhiêu tấn, mà còn là người trồng và doanh nghiệp Việt Nam giữ được bao nhiêu giá trị từ chính sản phẩm của mình.
Quốc Toản