09:21 29/09/2026

Xuất khẩu thủy sản tiến sát mốc 12 tỷ USD, nhiều điểm nghẽn cần tháo gỡ

8 tháng năm 2026, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đạt gần 8 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó thị trường châu Á tiếp tục đóng góp đáng kể cho tăng trưởng. Tuy nhiên, ngành vẫn đối diện nhiều vướng mắc từ quỹ đất, vùng nguyên liệu, vốn lưu động đến thuế, truy xuất nguồn gốc, thủ tục xuất khẩu và các biện pháp phòng vệ thương mại tại những thị trường lớn.

Xuất khẩu đạt gần 8 tỷ USD, châu Á tiếp tục giữ vai trò quan trọng

Theo số liệu thống kê sơ bộ của Cục Hải quan Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu thủy sản trong tháng 8/2026 đạt 1,14 tỷ USD, tăng 3,71% so với tháng 7. Tính chung 8 tháng đầu năm, tổng trị giá xuất khẩu thủy sản đạt 7,99 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm 2025.

Theo ông Đỗ Ngọc Tài, Chủ tịch Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), thủy sản Việt Nam hiện được xuất khẩu tới khoảng 170 thị trường và thuộc nhóm những ngành hàng xuất khẩu lớn của cả nước. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 11,3 tỷ USD, trong khi 8 tháng đầu năm 2026 đã đạt khoảng 8 tỷ USD, tăng 12%.

Bên cạnh những mặt hàng xuất khẩu chủ lực như tôm, cá tra và cá ngừ, các sản phẩm như cá rô phi, ghẹ, nhuyễn thể có vỏ và tôm hùm cũng đang được mở rộng trong cơ cấu xuất khẩu. Theo VASEP, những nhóm sản phẩm này đang mở thêm không gian cho ngành, trong bối cảnh nhu cầu tại nhiều thị trường tiếp tục có sự thay đổi.

Xuất khẩu thủy sản tiến sát mốc 12 tỷ USD nhiều điểm nghẽn cần tháo gỡ
Thị trường xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong tháng 8 và 8 tháng đầu năm 2026

Xét theo thị trường, Trung Quốc tiếp tục giữ vị trí lớn nhất trong cơ cấu xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Trong tháng 8/2026, kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 250,65 triệu USD, giảm 2,82% so với tháng 7, nhưng tính chung 8 tháng vẫn đạt 1,89 tỷ USD, tăng 33,87% so với cùng kỳ năm 2025 và chiếm 23,74% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản.

Hoa Kỳ đứng thứ hai với kim ngạch 181,89 triệu USD trong tháng 8, giảm nhẹ 0,09% so với tháng trước. Lũy kế 8 tháng, xuất khẩu thủy sản sang Hoa Kỳ đạt 1,25 tỷ USD, tăng 1,48% so với cùng kỳ và chiếm 15,68% tổng kim ngạch.

Nhật Bản ghi nhận mức tăng đáng kể trong tháng 8 khi kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 174,3 triệu USD, tăng 23,32% so với tháng 7. Tính chung 8 tháng, kim ngạch đạt 1,12 tỷ USD, tăng 2,8% so với cùng kỳ và chiếm 13,95%. Tại Hàn Quốc, kim ngạch tháng 8 đạt 81,25 triệu USD, tăng 12,55% so với tháng trước; lũy kế 8 tháng đạt 564,95 triệu USD, tăng 4,68% và chiếm 7,06%.

Như vậy, 4 thị trường Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Hàn Quốc chiếm phần lớn kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong 8 tháng đầu năm. Theo VASEP, tăng trưởng của toàn ngành hiện phụ thuộc lớn vào sức kéo từ Trung Quốc và các nước châu Á, khi nhu cầu đối với tôm, cá tra và cua ghẹ tại Trung Quốc tăng lên đã góp phần bù đắp sự suy giảm đơn hàng tại Hoa Kỳ và châu Âu.

Tại Hoa Kỳ, lượng tồn kho còn cao cùng các rào cản liên quan đến thuế Section 301 và thuế chống bán phá giá đã khiến các nhà nhập khẩu thu hẹp đơn hàng. Trong bối cảnh đó, việc mở rộng thị trường sang các nước CPTPP và ASEAN được các nguồn tin cung cấp ghi nhận là một trong những yếu tố cùng với sức mua tại châu Á góp phần duy trì mức tăng trưởng chung của xuất khẩu thủy sản sau 8 tháng.

Ở chiều ngược lại, trong tháng 8/2026, Việt Nam nhập khẩu 275,36 triệu USD thủy sản, giảm 5,3% so với tháng 7. Tính chung 8 tháng, tổng trị giá nhập khẩu thủy sản đạt 2,13 tỷ USD, giảm nhẹ 1,02% so với cùng kỳ năm 2025.

Ấn Độ là thị trường cung cấp thủy sản lớn nhất cho Việt Nam trong 8 tháng đầu năm với kim ngạch 325,86 triệu USD, tăng 0,23% và chiếm 15,28% tổng trị giá nhập khẩu. Indonesia đứng thứ hai với 252,36 triệu USD, giảm 17,94%, chiếm 11,83%; Na Uy đứng thứ ba với 227,83 triệu USD, giảm 3,06%, chiếm 10,68%.

Riêng trong tháng 8, Indonesia là thị trường cung cấp thủy sản lớn nhất cho Việt Nam với 36,79 triệu USD, dù giảm 14,6% so với tháng 7. Ấn Độ đạt 30,41 triệu USD, giảm 19,92%, trong khi Nhật Bản đạt 28,79 triệu USD, tăng 42,02%. Hoa Kỳ và Nhật Bản là hai thị trường có tốc độ tăng kim ngạch cao nhất so với tháng trước, lần lượt tăng 45,41% và 42,02%.

Xuất khẩu thủy sản tiến sát mốc 12 tỷ USD nhiều điểm nghẽn cần tháo gỡ
Cơ cấu thị trường nhập khẩu thủy sản 8 tháng đầu năm 2026

Tính chung 8 tháng, bên cạnh Hoa Kỳ tăng 33,87%, Trung Quốc tăng 20,73% và Nhật Bản tăng 15,43%, một số nguồn cung khác lại giảm đáng kể. Hàn Quốc giảm 25,45%, Philippines giảm 22,11%, Đài Loan giảm 21,14% và Indonesia giảm 17,94%, trong khi Nga giảm 8,27%, Chile giảm 5,03% và Na Uy giảm 3,06%.

Năm thị trường cung cấp lớn nhất gồm Ấn Độ, Indonesia, Na Uy, Nhật Bản và Trung Quốc đóng góp 58,13% tổng trị giá nhập khẩu thủy sản của Việt Nam trong 8 tháng đầu năm.

Doanh nghiệp kiến nghị gỡ nhiều điểm nghẽn

Dù xuất khẩu duy trì mức tăng trưởng hai chữ số, doanh nghiệp thủy sản cho biết nhiều khó khăn vẫn tập trung ở khâu sản xuất và chuẩn bị nguyên liệu. Theo VASEP, đất và mặt nước cho nuôi trồng thủy sản, vốn tín dụng, thuế, IUU, truy xuất nguồn gốc, thủ tục xuất khẩu và các vấn đề liên quan đến phòng vệ thương mại là những nội dung cần tiếp tục được tháo gỡ.

Đối với quỹ đất và mặt nước, VASEP cho biết đầu tư vùng nuôi hiện đại cần thời gian dài và nguồn vốn lớn để xây dựng hệ thống điện, thủy lợi, xử lý nước, công nghệ và truy xuất nguồn gốc. Trong khi đó, quỹ đất ở nhiều nơi còn phân tán, thời hạn giao và thuê đất chưa tương thích với nhu cầu đầu tư dài hạn, khiến việc phát triển vùng nguyên liệu tập trung gặp khó khăn.

VASEP kiến nghị nâng thời hạn thuê đất phục vụ nuôi trồng thủy sản và phát triển nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu lên 40-50 năm. Hiệp hội đồng thời đề xuất duy trì và bổ sung quy hoạch các diện tích trên bờ, trên sông và mặt biển có khả năng phát triển nuôi trồng thủy sản, đồng thời rà soát những diện tích đã được giao nhưng chưa sử dụng hiệu quả.

Xuất khẩu thủy sản tiến sát mốc 12 tỷ USD nhiều điểm nghẽn cần tháo gỡ

Từ phía doanh nghiệp, ông Ong Hàng Văn, Phó tổng giám đốc Công ty CP Thủy sản Trường Giang, cho biết khó khăn hiện nay không chỉ nằm ở giá nguyên liệu mà còn ở việc thiếu quỹ đất đủ lớn và ổn định để phát triển vùng nuôi công nghiệp. Theo ông, nuôi cá tra theo hướng hiện đại cần có ao lắng, hệ thống xử lý nước cấp, xử lý nước thải và tuần hoàn nước, do đó cần những vùng đất đủ lớn, liền vùng để có thể đầu tư hạ tầng đồng bộ.

Doanh nghiệp này kiến nghị rà soát quy hoạch vùng nuôi, bổ sung diện tích phù hợp và xây dựng cơ chế thuận lợi hơn cho thuê, tích tụ đất để phục vụ phát triển vùng nguyên liệu.

Bên cạnh quỹ đất, nhu cầu vốn lưu động cũng là vấn đề được các doanh nghiệp đề cập. Đặc thù của ngành thủy sản là phải mua nguyên liệu theo mùa vụ, dự trữ, chế biến rồi mới thu tiền từ xuất khẩu, nên doanh nghiệp cần lượng vốn lớn trong suốt chu kỳ sản xuất và xuất hàng. Tuy nhiên, việc cấp tín dụng hiện vẫn phụ thuộc nhiều vào tài sản bảo đảm.

Các doanh nghiệp kiến nghị Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các ngân hàng thương mại bố trí hạn mức tín dụng phù hợp cho doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu có đơn hàng và lịch sử tín dụng tốt. Đồng thời, doanh nghiệp đề xuất mở rộng phương thức đánh giá tín dụng theo dòng tiền, hợp đồng xuất khẩu, hợp đồng liên kết nguyên liệu và chu kỳ sản xuất, xuất khẩu.

Tập đoàn Thủy sản Minh Phú cũng phản ánh khó khăn về vốn thu mua tôm nguyên liệu và đề nghị ưu tiên hạn mức tín dụng cho doanh nghiệp xuất khẩu, nông nghiệp và thủy sản. Doanh nghiệp đồng thời kiến nghị tạo thuận lợi hơn cho nhập khẩu tôm nguyên liệu để tận dụng công suất chế biến, đơn giản hóa kiểm tra hàng xuất khẩu theo nguyên tắc quản lý rủi ro, cho phép linh hoạt hơn trong xuất ghép container giữa các công ty thành viên và đẩy nhanh hoàn thuế giá trị gia tăng.

Doanh nghiệp tăng tốc giữ thị trường, hướng tới mục tiêu 12 tỷ USD

Bên cạnh các vấn đề về đầu vào, thị trường xuất khẩu tiếp tục đặt ra yêu cầu đối với doanh nghiệp thủy sản, đặc biệt tại Hoa Kỳ. Theo VASEP, đây vẫn là một trong những thị trường quan trọng nhất của thủy sản Việt Nam nhưng cũng tập trung nhiều lớp chính sách liên quan đến thuế, phòng vệ thương mại và các yêu cầu kỹ thuật.

Kết quả xuất khẩu 8 tháng sang Hoa Kỳ đạt khoảng 1,24-1,25 tỷ USD, gần như đi ngang so với cùng kỳ. Trong đó, tôm và cá tra chịu mức giảm mạnh, trong khi các rào cản thương mại tiếp tục là nội dung được doanh nghiệp và hiệp hội quan tâm.

Xuất khẩu thủy sản tiến sát mốc 12 tỷ USD nhiều điểm nghẽn cần tháo gỡ

Để chủ động ứng phó, VASEP và doanh nghiệp kiến nghị Bộ Công Thương, Bộ Ngoại giao, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tăng cường phối hợp trong xử lý các vấn đề phòng vệ thương mại. Hiệp hội đề xuất nghiên cứu thành lập nhóm công tác liên ngành về chính sách thương mại Hoa Kỳ nhằm phục vụ cảnh báo sớm, chia sẻ thông tin và xây dựng phương án ứng phó thống nhất.

Cùng với đó, ngành kiến nghị xây dựng các kịch bản trung và dài hạn theo hướng vừa đa dạng hóa thị trường, vừa duy trì vị trí tại những thị trường lớn và có giá trị cao như Hoa Kỳ. Các chương trình xúc tiến và bảo vệ thị trường được đề xuất triển khai theo từng nhóm thị trường trọng điểm, đồng thời tăng cường phối hợp giữa Bộ Công Thương, Bộ Ngoại giao, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, hệ thống Thương vụ, hiệp hội và doanh nghiệp trong cảnh báo chính sách, tháo gỡ các rào cản SPS, phòng vệ thương mại và những vấn đề ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận thị trường.

Bên cạnh các kiến nghị về thị trường, những yêu cầu liên quan đến IUU và truy xuất nguồn gốc cũng tiếp tục được đặt ra đối với hoạt động sản xuất, chế biến và xuất khẩu thủy sản. Việc phát triển vùng nguyên liệu, đầu tư công nghệ, hệ thống xử lý nước và truy xuất nguồn gốc vì vậy được VASEP và các doanh nghiệp đề cập trong nhóm giải pháp cần được hỗ trợ để đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu.

Về triển vọng những tháng cuối năm 2026, VASEP nhận định nhu cầu phục vụ mùa lễ hội và chu kỳ bổ sung hàng tồn kho có thể giúp kim ngạch xuất khẩu duy trì ở mức cao. Tuy nhiên, theo hiệp hội, các yếu tố chính sách sẽ ngày càng quyết định cơ cấu tăng trưởng của ngành.

Với kim ngạch 7,99 tỷ USD sau 8 tháng, ngành thủy sản đang tiếp tục hướng tới mục tiêu đưa doanh thu xuất khẩu vượt 12 tỷ USD trong năm 2026. Cùng với sức kéo từ Trung Quốc và các thị trường châu Á, việc tháo gỡ những vướng mắc về đất đai, vùng nguyên liệu, tín dụng, thủ tục, truy xuất nguồn gốc và phòng vệ thương mại là những nội dung đang được ngành và doanh nghiệp kiến nghị trong quá trình thực hiện mục tiêu này.

Trung Anh