11:04 26/01/2024

Chuỗi giá trị ngành thời trang ngày càng dễ tổn thương

Trong báo cáo mới nhất của mình, nhóm tổ chức được kết hợp giữa Business of Fashion và McKinsey, cho rằng tần suất và cường độ của các hiện tượng thời tiết cực đoan đang khiến chuỗi giá trị của ngành thời trang ngày càng dễ tổn thương, trong bối cảnh ngành này đang chịu trách nhiệm từ 3% đến 8% tổng lượng khí thải nhà kính toàn cầu.

Chuỗi giá trị ngành thời trang ngày càng dễ tổn thương
Trên thế giới, nhiều công ty khởi nghiệp đang tìm cách đưa vật liệu chế tạo sinh học ra thị trường. Ảnh: BOF

Hồi chuông cảnh báo với ngành thời trang

Đối với nhiều doanh nghiệp thời trang, việc giải quyết các rủi ro liên quan đến khí hậu thường là ưu tiên hàng đầu bị lu mờ bởi những thách thức khác mà họ cho là cấp bách hoặc sắp xảy ra hơn. Tuy nhiên, do dấu ấn địa lý và cấu trúc của chuỗi cung ứng thời trang, nó đặc biệt dễ bị tổn thương trước những biến động khí hậu cực đoan và ngày càng gia tăng.

Do đó, các nhà phân tích cho rằng ngay trong năm 2024, cần có sự thay đổi tư duy trong toàn ngành để thừa nhận rằng việc duy trì hiện trạng không còn là một lựa chọn và rủi ro khí hậu không thể coi là một dự án dài hạn mà cần được giải quyết sâu hơn, triệt để hơn.

Năm 2023, thế giới đã cung cấp nhiều ví dụ về lý do tại sao việc giảm thiểu rủi ro khí hậu cần phải hành động ngay lập tức khi chuỗi giá trị thời trang phải đối mặt với các điều kiện thời tiết khắc nghiệt trên khắp thế giới. Giảm rủi ro sẽ không phải là trách nhiệm duy nhất của các nhà sản xuất - các thương hiệu cũng sẽ cần xem lại các tiêu chuẩn nhà cung cấp của họ và đầu tư để đảm bảo giải quyết đầy đủ các khía cạnh mới liên quan đến khí hậu.

Năm vừa qua có thể sẽ được ghi nhớ là năm xảy ra các thảm họa liên quan đến khí hậu và tần suất của những thảm họa này dự kiến ​​sẽ tăng lên do biến đổi khí hậu. Nhiệt độ tăng cao trên khắp thế giới đã khiến năm 2023 trở thành một trong những năm nóng kỷ lục mà các nhà khoa học cho rằng đó là kết quả của cả kiểu thời tiết El Nino và hiện tượng nóng lên toàn cầu. Nhiệt độ nóng bức, cháy rừng, mưa xối xả và lũ quét đã tàn phá các cộng đồng trên khắp thế giới, để lại đằng sau cái chết và sự hủy diệt.

Mặc dù thảm kịch về con người và môi trường đang rình rập, nhưng cũng khó có thể bỏ qua những thiệt hại về kinh tế. Ví dụ, Hoa Kỳ đã phải gánh chịu kỷ lục hàng năm trị giá 23 tỷ USD về các thảm họa liên quan đến khí hậu ngay cả trước khi năm 2023 kết thúc, vượt qua mức cao kỷ lục của năm 2020. Và hạn hán ở Argentina vào năm 2023 có thể khiến nền kinh tế nước này suy giảm 2,5%, theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế . Ngoài châu Mỹ, Trung Quốc đã thiệt hại hơn 7,6 tỷ USD do hạn hán nghiêm trọng vào năm 2022. Trên toàn cầu, chi phí cho mỗi thảm họa liên quan đến khí hậu được ước tính đã tăng 77% trong 50 năm qua, theo báo cáo của Diễn đàn Kinh tế Thế giới mới đây tại Davos (Thuỵ Sỹ).

Khi sự nóng lên toàn cầu vượt quá mức hiện tại là 1,1°C so với mức tiền công nghiệp, tăng trưởng năng suất sẽ giảm. Theo Oxford Economics, với mức độ nóng lên toàn cầu có khả năng đạt tới 2,2°C vào năm 2050, mức GDP toàn cầu có thể giảm tới 20%, trong khi sự nóng lên lên tới 5°C vào năm 2100 có thể dẫn đến “sự hủy diệt kinh tế”.

Khảo sát Business of Fashion và McKinsey, cho thấy những thách thức khác, đặc biệt là sự bất ổn về kinh tế, căng thẳng địa chính trị và lạm phát sẽ khiến các giám đốc điều hành phải chú ý trước rủi ro khí hậu. Năm 2023 vừa qua là hồi chuông cảnh tỉnh cho ngành thời trang, các nhà sản xuất trong ngành dệt may.

Ngành thời trang vẫn phải chịu trách nhiệm từ 3% đến 8% tổng lượng khí thải nhà kính, việc kết hợp các chiến lược ngắn hạn và dài hạn có thể giúp các công ty giải quyết thách thức khí hậu. Chẳng hạn như tìm cách giảm rủi ro cho chuỗi giá trị, tái cấu trúc hoạt động, hoặc tăng tính bền vững cho các sản phẩm.

Chuỗi giá trị ngành thời trang ngày càng dễ tổn thương

Rủi ro quá lớn đối với chuỗi giá trị thời trang

Mọi bộ phận của chuỗi giá trị thời trang đều bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng khí hậu, đặc biệt là vì phần lớn ngành này phụ thuộc vào các quốc gia và khu vực bị ảnh hưởng trực tiếp nhất bởi biến động khí hậu, cho thấy thời trang có rủi ro quá lớn so với nhiều ngành khác.

Đến năm 2030, các hiện tượng thời tiết cực đoan có thể gây nguy hiểm cho kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc trị giá 65 tỷ USD và loại bỏ gần một triệu việc làm ở bốn nền kinh tế nằm trong số những nền kinh tế trọng tâm nhất của ngành thời trang toàn cầu, gồm Bangladesh, Campuchia, Pakistan và Việt Nam.

Một phần của chuỗi giá trị thời trang được đặc biệt chú ý là sản xuất của các nhà sản xuất cung cấp nguyên liệu thô. Hãy xem xét cây bông, loại cây nhạy cảm với cả hạn hán và lũ lụt. Tại Ấn Độ, nước xuất khẩu bông lớn thứ hai thế giới, lượng mưa lớn và sự xâm nhập của sâu bệnh đã làm giảm nguồn cung đến mức nước này phải bắt đầu nhập khẩu. Pakistan cũng bị ảnh hưởng bởi gió mùa khắc nghiệt, trong khi ngược lại, hạn hán đã ảnh hưởng đến các nhà sản xuất bông ở Texas (Hoa Kỳ), dẫn đến mùa màng bị bỏ hoang và sản lượng sụt giảm nghiêm trọng.

Đối với các nhà sản xuất, lũ lụt cũng là một nguy cơ ngày càng tăng, buộc nhà máy phải đóng cửa tạm thời hoặc vĩnh viễn. Theo Business of Fashion và McKinsey, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam, 55% cơ sở sản xuất quần áo và giày dép có thể phải đối mặt với mực nước biển dâng cao và lũ lụt vào năm 2030. Không chỉ sinh kế của công nhân nhà máy mà cả sức khỏe và sự an toàn của họ cũng bị ảnh hưởng. Công nhân nhà máy ở Dhaka, Bangladesh, cho biết họ bị đau đầu, kiệt sức vì mất nước và thiếu ngủ do nhiệt độ cao, trong khi 53% công nhân Campuchia được khảo sát cho biết họ không khỏe do stress nhiệt. Trong khi đó, khi nhiệt độ tăng lên, năng suất dự kiến ​​sẽ giảm đáng kể, ước tính giảm khoảng 1,5% đối với mỗi mức nhiệt độ tăng trên 25°C.

Khí hậu cũng đang tác động đến chiến lược hậu cần của thời trang. Trên tất cả các ngành, 90% hàng hóa xuất khẩu phụ thuộc vào vận chuyển để đến đích cuối cùng, nhưng hoạt động kinh tế tại các cảng ước tính trị giá 122 tỷ USD có nguy cơ bị gián đoạn do các hiện tượng khí hậu cực đoan gây ra.

Mùa hè năm 2023 chứng kiến ​​đợt khô hạn tồi tệ nhất ở châu Âu trong 500 năm, khi các tàu hàng hải trên sông Rhine buộc phải giảm trọng lượng hàng hóa để tiếp tục hành trình. Một câu chuyện tương tự cũng diễn ra trên kênh đào Panama. Trong khi đó, tại Trung Quốc, hạn hán đã làm chậm giao thông trên sông Dương Tử, buộc các công ty phải vận chuyển hàng hóa bằng các tuyến đường thay thế thường đắt tiền hơn.

Cần chiến lược chống chịu thời tiết trong năm 2024 và xa hơn

Trước những rủi ro của khủng hoảng khí hậu, các nhà phân tích lưu ý, rằng các nhà điều hành ngành thời trang từ năm 2024 trở đi nên áp dụng các chiến lược về khí hậu vào hoạt động kinh doanh của mình. Trước hết là cần xác định giá trị trực tiếp gặp rủi ro từ các tác động tiềm ẩn của khí hậu cũng như các tác động vật chất cấp hai và cấp ba, chẳng hạn như sự gián đoạn chuỗi cung ứng, thiệt hại cơ sở hạ tầng hoặc mất mát tài chính và việc làm, đồng thời nên lập kế hoạch kịch bản kỹ lưỡng và khả năng ứng phó có hiệu quả cho những vấn đề này.

Tăng cường khả năng phục hồi trong chuỗi giá trị, đặc biệt là tại các “điểm nóng” về rủi ro khí hậu là rất quan trọng. Các nhà điều hành trong ngành cần có các quy trình linh hoạt để nhanh chóng bù đắp những áp lực liên quan đến thời tiết đối với nhà cung cấp, hàng tồn kho cũng như người tiêu dùng. Bên cạnh những thay đổi về hoạt động này, các điều chỉnh khác cũng phải được xem xét, bao gồm các chiến lược tìm nguồn cung ứng và địa điểm để đảm bảo chúng cũng mang lại sự linh hoạt và tốc độ trong thời điểm xảy ra các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt. Điều này có thể yêu cầu sự cân bằng giữa giảm thiểu rủi ro và chi phí, tốc độ, năng lực và tính sẵn có của nguyên liệu.

Theo các chuyên từ McKinsey, hành động của các nhà sản xuất cần phải thực hiện dưới hình thức ưu tiên sức khỏe và sự an toàn của người lao động. Điều này có thể được thực hiện thông qua các thay đổi vận hành như: cung cấp thời gian nghỉ thường xuyên hơn, tiện nghi bù nước và giám sát nhiệt độ chủ động của sàn nhà máy, bên cạnh việc đầu tư vốn vào hệ thống quạt…

Về lâu dài và quan trọng nhất, các công ty nên đầu tư vào đổi mới trong chuỗi giá trị nhằm giúp giảm tác động của thời trang lên hành tinh. Điều này sẽ chạm đến tất cả các lĩnh vực của chuỗi giá trị, từ những cải tiến vật liệu mới như: sợi được trồng trong phòng thí nghiệm, tái sử dụng và tái chế sản phẩm hiệu quả và có đạo đức hơn.

Bối cảnh năm 2024 “không mấy chắc chắn”, niềm tin của người tiêu dùng vẫn còn mong manh… Nhìn chung, doanh nghiệp dệt may đang chuẩn bị cho một năm đầy thách thức về mặt chiến lược phía trước. Vì vậy, theo các nhà phân tích, các doanh nghiệp trong ngành cần lập kế hoạch cẩn thận cho nhiều tình huống khác nhau, trang bị tốt hơn để quản lý giá cả và sẵn sàng tăng tốc khi “cơn bão” khó khăn dần tan.

Việt Nam không đứng ngoài xu thế xanh hoá lĩnh vực dệt may 

Trước những tác động tiêu cực tới môi trường, và xu thế xanh hoá ngành dệt may, Việt Nam đã thể hiện rõ trách nhiệm của mình và đã có những chiến lược phát triển phù hợp để thích ứng cũng như thúc đẩy phát triển theo hướng bền vững. 

Mục tiêu đặt ra cho cộng đồng doanh nghiệp ngành dệt may chính là khẳng định vị thế bằng chiến lược phát triển bền vững, đạt chuẩn mực trong các điều khoản hợp đồng thương mại, tổ chức đánh giá. Bản thân các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cũng tích cực thực hiện xanh hóa, phát triển bền vững, đầu tư hạ tầng cơ sở trong giảm phát thải nhà kính, thúc đẩy giải pháp phát triển sản phẩm có tính bền vững, chuyển đổi nồi hơi nước bằng điện thay cho đốt than, củi… Cùng với đó là đầu tư mạnh phát triển công nghệ số, tạo minh bạch trong sản xuất kinh doanh.

Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas), ông Vũ Đức Giang thông tin, rằng: “Cùng với việc sử dụng sản phẩm tái chế, thân thiện môi trường như sợi gai, sợi tre…, ngành dệt may Việt Nam cũng sắp xếp mô hình cộng đồng doanh nghiệp, chuyển dịch nhanh nhà máy từ thành phố về vùng sâu, vùng xa. Trong những năm qua, dù khó khăn nhưng các doanh nghiệp vẫn đầu tư nhiều nhà máy mới nên giữ được tỷ trọng trong xuất khẩu. Trong quý 4/2023, ngành dệt may Việt Nam đã nhận được tín hiệu đơn hàng tốt hơn và đây là xu thế tốt cho mục tiêu 2024 đang đến gần".

Năm 2024, dự báo kinh tế thế giới còn nhiều biến động. Thách thức với doanh nghiệp dệt may chưa dừng lại khi ngày càng nhiều thị trường nhập khẩu dệt may lớn đưa ra những quy định mới mang tính bắt buộc liên quan tới môi trường trong chuỗi cung ứng, quy định thiết kế sinh thái, sản phẩm tái chế, xử lý chất thải dệt may… Mặc dù chi phí đầu tư cao, nhưng chuyển đổi xanh là tất yếu và các doanh nghiệp dệt may Việt Nam không thể đứng ngoài xu thế đó nếu muốn tiếp tục giữ vững vị thế của mình trên thị trường xuất khẩu.

Minh Đức