Chính sách trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) siết trách nhiệm tái chế, doanh nghiệp tăng nhu cầu nguyên liệu xanh và tín dụng xanh mở rộng đang tạo lực đẩy mới cho thị trường nguyên liệu tái chế. Dù vậy việc thiếu nguồn cung ổn định, công nghệ và chi phí thu gom vẫn là điểm nghẽn lớn đối với thị trường.
EPR mở cửa thị trường nguyên liệu thứ cấp
Nếu trước đây rác thải chủ yếu được nhìn như một gánh nặng xử lý, thì nay một phần trong số đó đang dần trở thành nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất. Nhựa PET, giấy, kim loại, thủy tinh, bao bì sau sử dụng hay phụ phẩm công nghiệp đang được nhìn nhận dưới một góc độ khác: càng thu gom tốt, càng phân loại đúng và tái chế hiệu quả, giá trị kinh tế càng lớn.
Động lực quan trọng nhất đang đến từ EPR. Nghị định 110/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 25/5/2026, quy định cụ thể trách nhiệm tái chế đối với sản phẩm, bao bì và trách nhiệm xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu. Theo đó, doanh nghiệp thuộc diện điều chỉnh phải thực hiện tái chế theo tỷ lệ và quy cách bắt buộc.
Điểm đáng chú ý là EPR đang tạo ra một nguồn cầu tương đối chắc chắn cho hoạt động thu gom và tái chế. Khi nhà sản xuất phải chứng minh trách nhiệm tái chế, thị trường không còn phụ thuộc hoàn toàn vào việc người tiêu dùng có tự nguyện phân loại rác hay không.
Chính sách trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) siết trách nhiệm, tạo lực đẩy mới cho thị trường nguyên liệu tái chế (ảnh: Đinh Phương)
Theo PRO Việt Nam, đến cuối tháng 5/2026, hơn 30.000 tấn bao bì đã được thu gom và tái chế, tương đương hơn một nửa khối lượng hơn 60.000 tấn được phê duyệt trong kế hoạch năm. Tổ chức này dự kiến quy mô thực hiện EPR trong cả năm 2026 tăng khoảng 90% so với năm 2025.
Bởi một khi lượng bao bì được thu gom tăng, đầu ra không chỉ là sản phẩm tái chế mà còn hình thành nguồn cung nguyên liệu thứ cấp cho nhiều ngành sản xuất: hạt nhựa tái sinh cho ngành nhựa, giấy thu hồi cho ngành giấy, nhôm và sắt phế liệu cho luyện kim, thủy tinh tái chế cho ngành bao bì.
Theo ông Hồ Kiên Trung - Phó Cục trưởng Cục Môi trường, ngành tái chế bao bì Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn, nhưng chính sách EPR vẫn cần tiếp tục hoàn thiện để tạo điều kiện cho thị trường phát triển. Vấn đề ở đây là thị trường tái chế không thể chỉ dựa vào quy định bắt buộc. Muốn hình thành một ngành nguyên liệu thứ cấp đủ lớn, phải có cả nguồn cung phế liệu, hệ thống thu gom, công nghệ xử lý, doanh nghiệp tái chế và đầu ra ổn định.
Trên thực tế, những mắt xích này đang bắt đầu được nối lại, tại TPHCM, cuối tháng 8/2026, Unilever Việt Nam phối hợp với cơ quan quản lý và các tổ chức xã hội triển khai “Hành trình tuần hoàn nhựa 2026”, trong đó có kế hoạch phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn và nhân rộng các trạm thu hồi vật liệu tái chế (MRF) tại khu dân cư, trường học và chợ truyền thống. Động thái này cho thấy cuộc chơi đang dịch chuyển từ “thu gom rác” sang “thu gom nguyên liệu”.
Khi hệ thống MRF và phân loại tại nguồn phát triển, nhựa PET, giấy, lon nhôm… có thể được tách khỏi dòng rác hỗn hợp ngay từ đầu. Điều đó giúp giảm chi phí xử lý, nâng chất lượng nguyên liệu và quan trọng hơn là tăng khả năng đưa vật liệu trở lại dây chuyền sản xuất.
Vốn xanh và nhu cầu nguyên liệu tái chế cùng tăng
Một yếu tố khác có thể thúc đẩy thị trường nguyên liệu tái chế trong vài năm tới là dòng vốn xanh. Đến nay, 82 tổ chức tín dụng tại Việt Nam đã phát sinh dư nợ tín dụng xanh với tổng quy mô hơn 828.000 tỷ đồng, tăng 4,6 lần so với năm 2017. Dòng vốn đang tập trung vào nhiều lĩnh vực, trong đó có các hoạt động liên quan đến kinh tế tuần hoàn và môi trường.
Việc Thủ tướng ban hành Quyết định 21/2025/QĐ-TTg về tiêu chí môi trường và xác nhận dự án thuộc Danh mục phân loại xanh cũng tạo thêm cơ sở để ngân hàng xác định và thẩm định các dự án xanh, trong đó có những dự án xử lý chất thải, tái chế và tái sử dụng vật liệu.
Đối với ngân hàng, đây là sự thay đổi đáng kể. Trước đây, một dự án tái chế có thể bị đánh giá là mô hình kinh doanh nhiều rủi ro bởi nguồn nguyên liệu thiếu ổn định, công nghệ phức tạp và đầu ra phụ thuộc giá hàng hóa. Khi tiêu chí xanh được chuẩn hóa, ngân hàng có thêm cơ sở để đánh giá dự án và phân bổ vốn.
Theo các chuyên gia, lĩnh vực xử lý chất thải và tái chế có nhu cầu vốn lớn, chi phí vận hành cao và chịu rủi ro do chất lượng rác đầu vào không ổn định. Việc có bộ tiêu chí xanh rõ ràng giúp giảm bất đối xứng thông tin giữa ngân hàng và doanh nghiệp, từ đó tạo điều kiện để vốn chảy vào lĩnh vực này.
Đây chính là điểm có thể tạo ra vòng xoáy tăng trưởng mới cho thị trường nguyên liệu tái chế. Doanh nghiệp tái chế có vốn đầu tư máy móc sẽ nâng công suất. Công suất tăng kéo theo nhu cầu thu gom. Nhu cầu thu gom tăng tạo động lực cho hệ thống phân loại. Nguồn nguyên liệu ổn định hơn lại khiến các doanh nghiệp sản xuất yên tâm sử dụng vật liệu tái chế. Khi đó, nguyên liệu tái chế không còn là một sản phẩm “phụ” mà có thể trở thành một thị trường hàng hóa thực sự.
Trong khi nhu cầu từ phía doanh nghiệp sản xuất cũng đang tăng, chẳng hạn, Coca-Cola đặt mục tiêu đến năm 2035 thu gom 70-75% chai, lon bán ra và sử dụng 35-40% vật liệu tái chế trong bao bì. Tại Việt Nam, doanh nghiệp này đã đưa chai sử dụng 100% nhựa rPET, không bao gồm nắp và nhãn, vào thị trường từ năm 2022.
Khi những doanh nghiệp hàng tiêu dùng lớn gia tăng tỷ lệ vật liệu tái chế, nhu cầu đối với rPET, giấy tái chế, nhôm tái chế… sẽ không còn mang tính thử nghiệm mà trở thành một phần của chuỗi cung ứng.
Tuy nhiên, thị trường nguyên liệu tái chế chưa thể bùng nổ chỉ bằng nhu cầu, nút thắt lớn nhất hiện nay vẫn là chất lượng và giá thành. Một doanh nghiệp sản xuất bao bì có thể muốn sử dụng nhựa tái chế, nhưng nếu nguồn nguyên liệu không ổn định, chất lượng không đồng nhất hoặc giá cao hơn nhựa nguyên sinh quá nhiều, họ sẽ khó chuyển đổi trên quy mô lớn.
Ở góc độ tài chính, đây là nơi tín dụng xanh có thể đóng vai trò quan trọng. Các ngân hàng không chỉ cung cấp vốn cho nhà máy tái chế mà còn có thể tài trợ cho cả chuỗi giá trị: doanh nghiệp thu gom, trung tâm phân loại, nhà máy xử lý và doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu tái chế.
Thực tế, nhiều ngân hàng đã bắt đầu đưa các dự án tái chế, kinh tế tuần hoàn vào nhóm được xem xét trong danh mục tín dụng xanh. BIDV, VietinBank và Vietcombank, Agribank đều đã mở rộng các chương trình tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, sản xuất sạch và kinh tế tuần hoàn.
Tuy nhiên, các chuyên gia ngân hàng cũng chỉ ra một điểm nghẽn: doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn khó tiếp cận vốn xanh do thiếu tài sản bảo đảm, thiếu dữ liệu ESG và khó chứng minh hiệu quả môi trường của dự án. Điều này đặc biệt đáng lưu ý bởi ngành thu gom, phân loại và tái chế ở Việt Nam có sự tham gia lớn của các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ. Chính vì vậy, triển vọng của thị trường nguyên liệu tái chế trong những năm tới có thể nhìn theo hướng tăng trưởng mạnh nhưng không đồng đều.
Nhựa PET và bao bì có khả năng là một trong những thị trường phát triển nhanh nhất nhờ EPR và nhu cầu từ các thương hiệu tiêu dùng. Giấy tái chế cũng có dư địa lớn khi ngành bao bì carton phát triển. Kim loại có lợi thế vì giá trị vật liệu cao và khả năng tái chế nhiều lần. Trong khi đó, các dòng phế liệu phức tạp như rác điện tử, pin, vật liệu composite… sẽ cần công nghệ và vốn lớn hơn.
Nói cách khác, rác thải đang dần được định giá lại như một loại tài sản nguyên liệu, nếu EPR tiếp tục được thực thi hiệu quả, hệ thống phân loại tại nguồn được mở rộng, doanh nghiệp tăng nhu cầu sử dụng vật liệu tái chế và ngân hàng cung cấp được nguồn vốn dài hạn, thị trường này hoàn toàn có cơ sở để bước vào một chu kỳ tăng trưởng mới.
Nhưng “bùng nổ” không nên được hiểu đơn giản là lượng rác được tái chế tăng mạnh. Điều quan trọng hơn là Việt Nam có hình thành được thị trường nguyên liệu thứ cấp đủ lớn, đủ sạch, đủ ổn định và có giá cạnh tranh hay không. Đó mới là điều quyết định liệu kinh tế tuần hoàn có thực sự đi vào sản xuất hàng hóa. Và khi câu trả lời là “có”, rác thải sẽ không còn chỉ là thứ phải xử lý. Nó sẽ trở thành một nguồn nguyên liệu cạnh tranh với nguyên liệu nguyên sinh, mở ra một thị trường hàng hóa mới ngay trong lòng nền kinh tế.
Phượng Hòa