Trong quý 4, Bất động sản tiếp tục là nhóm ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất với 34,1% tổng giá trị đáo hạn trái phiếu riếng lẻ trong quý, tương đương 20.071 tỷ đồng, tăng 65,2% so với cùng kỳ.
Phát hành trái phiếu giảm mạnh
Theo Báo cáo cập nhật thị trường trái phiếu vừa công bố, Vndirect cho biết, tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) phát hành trong quý III/2022 đạt mức 60.635 tỷ đồng, giảm mạnh 50,5% so với quý trước, giảm mạnh 70,9% so với cùng kỳ xuống. Tỷ lệ phát hành thành công đạt 98,9%. Trong đó, tỷ lệ trái phiếu phát hành riêng lẻ và công chúng lần lượt là 97,4% và 2,6%.
Trong Quý III, có 42 doanh nghiệp (DN) phát hành tổng cộng 59.032 tỷ đồng trái phiếu riêng lẻ, giảm mạnh 51,7% so với quý trước, và giảm 71,1% so với cùng kỳ xuống. Các DN có giá trị phát hành (GTPH) trái phiếu riêng lẻ lớn nhất trong quý đều là các ngân hàng, bao gồm: Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (6.867 tỷ đồng), Ngân hàng TMCP Phương Đông (6.600 tỷ đồng) và Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (4.210 tỷ đồng).
Trong khi đó, 1.603 tỷ đồng TPDN được phát hành ra công chúng, tăng 434,4% so với quý trước cũng như so với mức nền thấp năm ngoái, chủ yếu cũng tập trung ở nhóm các ngân hàng TMCP.
Nguồn: Vndirect.
Trong Quý III, Tài chính – Ngân hàng là nhóm ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất với 82,5% tổng giá trị phát hành trái phiếu riêng lẻ, tương đương 48.683 tỷ đồng (giảm 39,5% so với quý trước, giảm 37,9% so với cùng kỳ xuống). Ngoài 3 Ngân hàng có giá trị phát hành lớn nhất kể trên, các tổ chức tài chính khác có giá trị phát hành lớn nhất bao gồm: NH TMCP Á Châu (3.800 tỷ đồng), NH TMCP Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (3694 tỷ đồng), NH TMCP Quân Đội (3630 tỷ đồng), …
Bất động sản chiếm tỷ trọng 13,7% tổng giá trị phát hành trái phiếu riêng lẻ, tương đương 8.091 tỷ đồng (giảm mạnh 45,9% sv quý 2/22, giảm 90,9% so với cùng kỳ xuống). Các DN BĐS có phát hành riêng lẻ nhiều nhất trong quý bao gồm: Công ty TNHH No Va Thảo Điền (2.300 tỷ đồng), CTCP Đầu tư và Phát triển Du lịch Phú Quốc (2.285,6 tỷ đồng) và CTCP Fuji Nutri Food (1.000 tỷ đồng).
Tập đoàn đa ngành chứng kiến sự sụt giảm mạnh nhất về giá trị phát hành riêng lẻ với khoản1.500 tỷ đồng (giảm 89,5% so với quý II/2022), chỉ có CTCP Tập đoàn Masan phát hành trong quý này.
Các ngành khác chiếm 1,3% tổng giá trị phát hành trái phiếu riêng lẻ trong quý, tương đương 758 tỷ đồng (giảm 94,0% so với quý trước). Đáng chú ý có: CTCP Sản xuất và Kinh doanh Vinfast phát hành 300 tỷ đồng với kì hạn 3 năm và Công ty TNHH Khai thác Chế biến Khoáng sản Núi Pháo phát hành 290 tỷ đồng với kì hạn 5 năm.
Báo cáo cũng cho biết, ngay từ thời điểm tháng 3/2022, thị trường TPDN chậm lại nhằm chờ đợi Nghị định sửa đổi 153/NĐ-CP/2020, với mục tiêu bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư cũng như nâng cao chất lượng của thị trường vốn.
Ngay từ thời điểm tháng 3/2022, thị trường TPDN chậm lại nhằm chờ đợi Nghị định sửa đổi 153/NĐ-CP/2020, với mục tiêu bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư cũng như nâng cao chất lượng của thị trường vốn. (Ảnh minh họa)
Trong bối cảnh đó, tổng giá trị phát hành TPDN trong 9 tháng năm 2022 giảm mạnh 43,5% so với cùng kỳ xuống còn 248.603 tỷ đồng; trong đó là 240.804 tỷ đồng phát hành riêng lẻ (giảm42,2%) và 7.799 tỷ đồng phát hành ra công chúng (giảm mạnh 66,8%).
Tài chính – Ngân hàng là nhóm ngành dẫn đầu về giá trị phát hành trong 9 tháng, khi chiếm 57,7% tổng giá trị phát hành, giảm 15,2% so với cùng kỳ.
Tiếp theo là nhóm ngành Bất động sản chiếm 21,5% tổng giá trị phát hành, giảm mạnh 67% so với 9 tháng đầu năm 2021. Nhóm Tập đoàn đa ngành và các nhóm ngành khác chiếm lần lượt 6,3% và 14,5% tổng giá trị phát hành trong 9 tháng, tăng 94,9% và giảm 64,2% so với cùng kỳ.
Trong 9 tháng đầu năm, TOP 5 DN phát hành trái phiếu nhiều nhất gồm có 3 Ngân hàng và 2 tập đoàn niêm yết trên sàn chứng khoán, đó là: NH TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (19.872 tỷ đồng), Tập đoàn Vingroup và các công ty con (16.569 tỷ đồng); Tập đoàn Địa ốc NOVA và các công ty con (15.157 tỷ đồng), NHTMCP Phương Đông (12.300 tỷ đồng), NHTMCP Á Châu (10.450 tỷ đồng).
Doanh nghiệp bất động sản dẫn đầu về giá trị trái phiếu đáo hạn
Báo cáo cập nhật thị trường trái phiếu vừa công bố, Vndirect ước tính, tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ đáo hạn trong quý IV/2022 đạt mức 58.840 tỷ đồng, giảm 9,1% so với quý trước và tăng 87,7% so với cùng kỳ.
Thống kê chỉ bao gồm các đợt phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ từ năm 2019 tới nay và không bao gồm các doanh nghiệp phát hành đã thực hiện mua lại trái phiếu trước thời gian đáo hạn. Ước tính có khoảng 142.200 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp đã được mua lại trong 9T22.
Nguồn: Vndirect.
Trong quý IV, Bất động sản tiếp tục là nhóm ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất với 34,1% tổng giá trị đáo hạn trái phiếu riếng lẻ trong quý, tương đương 20.071 tỷ đồng giảm 40,3% so với quý Q3/22, tăng 65,2% so với cùng kỳ.
Các doanh nghiệp bất động sản có giá trị đáo hạn cao nhất trong Quý IV bao gồm: Công ty CP Tập đoàn Sunshine (bao gồm các công ty con) (3.000 tỷ đồng), Công ty CP Tập đoàn Đầu tư Địa ốc No Va (3.000 tỷ đồng) và Công ty CP Bách Hưng Vương (2.980 tỷ đồng).
Tài chính – Ngân hàng là nhóm ngành chiếm tỷ trọng lớn thứ hai với 32,9% tổng giá trị đáo hạn trong quý IV/2022, tương đương 19.365 tỷ đồng giảm 19,4% so với Q3/22, tăng 130,1% so với cùng kỳ. Các tổ chức tài chính có giá trị đáo hạn cao nhất trong Q4/22 gồm: Techcombank 4.500 tỷ đồng, VIB 3.000 tỷ đồng và VPB 1.950 tỷ đồng.
Các ngành khác chiếm 33,0% tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ đáo hạn trong quý IV/2022, đạt 19.404 tỷ đồng (+175,8% sv quý III/2022, +80,0% svck). Các doanh nghiệp ngoài nhóm bất động sản và Tài chính - Ngân hàng có giá trị đáo hạn cao nhất gồm: Công ty CP TNHH Sản xuất và Kinh Doanh Vinfast (9.010 tỷ đồng), Công ty CP Wealth Power (2.880 tỷ đồng) và Công ty CP Tập đoàn Sovico (2.100 tỷ đồng).
Liên quan đến áp lực đáo hạn trái phiếu, theo CTCK KB Việt Nam (KBSV), việc các doanh nghiệp đẩy mạnh phát hành trái phiếu giai đoạn 2018 - 2021 làm gia tăng áp lực đáo hạn vào năm 2022 - 2026. Thống kê của đơn vị này cho biết, tổng giá trị trái phiếu đáo hạn vào năm 2023 và 2024 lần lượt đạt 374,3 nghìn tỷ đồng và 381,2 nghìn tỷ đồng. Trong đó, nhóm bất động sản chiếm tỷ trọng lớn thứ hai, lần lượt đạt 120,4 nghìn tỷ đồng (chiếm 32,1%) và 121,1 nghìn tỷ đồng (chiếm 32,0%).
Trong khi đó, các chuyên gia của KBSV cho biết, giai đoạn 2020 – 2021, các doanh nghiệp bất động sản quy mô vốn chủ dưới 20.000 tỷ đồng có dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh (CFO) dương không ấn tượng, riêng nhóm có vốn chủ sở hữu từ 1.000 – 5.000 tỷ đồng ghi nhận âm CFO trong năm 2021 – quý I/2022. Nhóm doanh nghiệp này đẩy mạnh hoạt động đầu tư, mua dự án mới giá trị lớn bằng dòng vốn vay nợ cũng như phát hành cổ phiếu.
“Mặc dù doanh số bán hàng tốt trong giai đoạn 2019 - 2021 nhưng nhìn chung, các doanh nghiệp bất động sản khó có thể giảm nợ. Họ vẫn phải tích lũy và triển khai các dự án mới để có thể huy động thêm nguồn vay nợ nhằm trả nghĩa vụ nợ đáo hạn của trái phiếu đã phát hành từ các năm trước. Với diễn biến thị trường bất động ảm đạm trong thời gian vừa qua, nhóm doanh nghiệp bất động sản quy mô nhỏ và vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn do sử dụng đòn bảy cao trong giai đoạn vừa qua cùng với chất lượng dự án và khả năng bán hàng thấp hơn”, KBSV đánh giá.
Mặt khác, với diễn biến lạm phát diễn ra căng thẳng, động thái tăng lãi suất đang trở nên phổ biến ở các quốc gia trên thế giới và Việt Nam dự kiến khó tránh khỏi xu hướng chung để giảm bớt áp lực về tỷ giá. Lãi suất tăng cao sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí vốn đầu tư bất động sản của doanh nghiệp cũng như cá nhân trong năm 2023 khiến khả năng hấp thụ của thị trường giảm sút trong khi lượng hàng tồn kho tích lũy còn rất lớn sau giai đoạn vừa qua.
Hồng Quang