Cục Hải quan vừa làm rõ căn cứ xác định mã HS, thuế suất thuế xuất khẩu đối với gỗ tròn, gỗ xẻ và một số sản phẩm gỗ. Việc khai báo đầy đủ đặc điểm hàng hóa được xem là yếu tố quan trọng để doanh nghiệp xác định đúng mã số, áp dụng chính sách thuế phù hợp và hạn chế vướng mắc khi làm thủ tục hải quan.
Cục Hải quan vừa ban hành Công văn số 20173/CHQ-NVTHQ phúc đáp Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam về việc thực hiện chính sách thuế đối với mặt hàng gỗ tròn và gỗ xẻ xuất khẩu.
Văn bản làm rõ căn cứ xác định mã số hàng hóa, thuế suất thuế xuất khẩu cũng như chính sách miễn thuế đối với sản phẩm gia công xuất khẩu.
Theo Cục Hải quan, việc xác định mã HS phải căn cứ vào hồ sơ hải quan, tài liệu kỹ thuật và các thông tin cụ thể về thành phần, tính chất, mức độ gia công, kích thước, độ dày và công dụng của hàng hóa theo quy định tại Điều 16 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP.
Đối với đề nghị của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, thông tin cung cấp mới chỉ nêu tên hàng là gỗ tròn và gỗ xẻ, chưa thể hiện đầy đủ tình trạng thực tế của hàng hóa như đã bóc vỏ hay chưa, có được đẽo vuông, bào, chà nhám, ghép nối đầu hay không, cùng các thông số kỹ thuật liên quan.
Do chưa đủ cơ sở để phân loại hàng hóa, Cục Hải quan chưa thể xác định cụ thể mã HS và mức thuế suất áp dụng cho từng mặt hàng.
Nhiều nhóm sản phẩm gỗ sẽ có mức thuế xuất khẩu khác nhau.
Để doanh nghiệp có cơ sở đối chiếu, Cục Hải quan dẫn chiếu Biểu thuế xuất khẩu ban hành kèm theo Nghị định số 26/2023/NĐ-CP của Chính phủ.
Theo đó, gỗ cây dạng thô thuộc nhóm 44.03 và gỗ đã cưa hoặc xẻ theo chiều dọc, có độ dày trên 6 mm thuộc nhóm 44.07 đều áp dụng thuế suất xuất khẩu 25%.
Trong khi đó, tấm gỗ dùng làm lớp mặt, gỗ lạng hoặc gỗ bóc có độ dày không quá 6 mm thuộc nhóm 44.08 áp dụng thuế suất xuất khẩu 10%.
Đối với các sản phẩm gỗ đã được tạo dáng liên tục như làm mộng, soi rãnh, tạo gân, tạo khuôn hoặc gia công tương tự, thuộc nhóm 44.09, thuế suất xuất khẩu được áp dụng ở mức 5%.
Như vậy, cùng là sản phẩm từ gỗ nhưng tùy thuộc vào tình trạng thực tế và mức độ gia công, hàng hóa có thể được phân vào các nhóm mã HS khác nhau và áp dụng mức thuế xuất khẩu khác nhau.
Do đó, việc cung cấp đầy đủ thông tin về đặc điểm, tính chất và tình trạng của hàng hóa ngay từ khâu khai báo là cơ sở quan trọng để xác định đúng mã HS và chính sách thuế.
Bên cạnh hướng dẫn về thuế suất, Cục Hải quan cũng lưu ý doanh nghiệp về chính sách miễn thuế đối với sản phẩm gia công xuất khẩu.
Theo quy định của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và Nghị định số 134/2016/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 18/2021/NĐ-CP, nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để gia công hàng hóa xuất khẩu được miễn thuế nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định.
Tuy nhiên, đối với sản phẩm gia công xuất khẩu được sản xuất từ nguyên liệu, vật tư trong nước thuộc diện chịu thuế xuất khẩu, phần giá trị nguyên liệu, vật tư trong nước cấu thành trong sản phẩm sẽ không thuộc diện miễn thuế.
Theo Cục Hải quan, việc xác định đúng mã HS ngay từ khâu khai báo không chỉ giúp doanh nghiệp áp dụng đúng mức thuế suất mà còn hạn chế các vướng mắc phát sinh trong quá trình làm thủ tục hải quan.
Việc khai báo đầy đủ và chính xác đặc điểm hàng hóa cũng góp phần bảo đảm thực hiện thống nhất chính sách thuế, tránh sai sót trong phân loại và áp dụng thuế đối với các mặt hàng gỗ xuất khẩu.
Nhật Hạ