20:43 02/11/2026

Đổi cách xếp hạng quỹ tín dụng nhân dân

Với đề xuất chuyển phương pháp xếp hạng quỹ tín dụng nhân dân từ thang điểm 100 sang thang điểm 4, đồng thời phân bổ lại trọng số các nhóm chỉ tiêu, trong đó, quản trị, điều hành và mức độ tuân thủ được đặt trong trọng tâm đánh giá.

Dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 42/2016/TT-NHNN quy định về xếp hạng quỹ tín dụng nhân dân, được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 05/2021/TT-NHNN, quy định xếp hạng quỹ tín dụng nhân dân do Ngân hàng Nhà nước xây dựng ngày 29/10/2026 đưa ra nhiều điều chỉnh đáng chú ý so với quy định hiện hành.

Thay đổi không nằm ở việc thiết lập một hệ thống tiêu chí hoàn toàn mới, mà tập trung vào phương pháp tính điểm, cơ cấu trọng số và ngưỡng phân loại. Qua đó, kết quả xếp hạng được thiết kế theo hướng phản ánh đồng thời sức khỏe tài chính, chất lượng quản trị và mức độ tuân thủ của mỗi quỹ.

Dự thảo được xây dựng để thay thế Thông tư số 42/2016/TT-NHNN và Thông tư số 05/2021/TT-NHNN. Nếu được ban hành, đây sẽ là cơ sở mới để đánh giá, phân loại quỹ tín dụng nhân dân, phục vụ công tác quản lý, thanh tra và giám sát của cơ quan quản lý.

Đổi cách xếp hạng quỹ tín dụng nhân dân
Đổi cách xếp hạng quỹ tín dụng nhân dân - Ảnh minh họa

Giữ 5 tiêu chí, đổi phương pháp chấm điểm

Theo quy định hiện hành, quỹ tín dụng nhân dân được xếp hạng theo thang điểm 100, trên cơ sở 5 tiêu chí gồm: vốn; chất lượng tài sản; năng lực quản trị, điều hành, kiểm soát; kết quả hoạt động kinh doanh; khả năng chi trả. Trong đó, vốn chiếm 10 điểm, chất lượng tài sản 30 điểm, năng lực quản trị, điều hành, kiểm soát 30 điểm, kết quả hoạt động kinh doanh 10 điểm và khả năng chi trả 20 điểm.

Dự thảo tiếp tục kế thừa 5 tiêu chí này, nhưng điều chỉnh cách tính điểm theo hướng phân chia thành nhóm chỉ tiêu định lượng và nhóm chỉ tiêu định tính. Thay vì áp dụng phương pháp trừ điểm trên thang 100 như hiện hành, dự thảo thiết kế cách tính dựa trên điểm của từng nhóm chỉ tiêu và trọng số tương ứng.

Cụ thể, theo Điều 17 dự thảo, trọng số của 5 tiêu chí vẫn được giữ nguyên: vốn chiếm 10%; chất lượng tài sản 30%; quản trị, điều hành 30%; kết quả hoạt động kinh doanh 10%; khả năng chi trả 20%. Như vậy, chất lượng tài sản và quản trị, điều hành tiếp tục là hai tiêu chí có tỷ trọng lớn nhất trong tổng điểm xếp hạng.

Tuy nhiên, điểm đáng chú ý nằm ở cách phân bổ trọng số giữa hai nhóm chỉ tiêu bên trong từng tiêu chí. Trên tổng thể, nhóm chỉ tiêu định lượng chiếm 50% và nhóm chỉ tiêu định tính chiếm 50% tổng điểm xếp hạng. Đây là cơ cấu cho thấy dự thảo không chỉ dựa vào các chỉ số tài chính để đánh giá hoạt động của quỹ, mà còn đặt mức độ tuân thủ và chất lượng quản trị vào vị trí quan trọng.

Tỷ trọng cụ thể được phân bổ khác nhau theo từng tiêu chí. Với tiêu chí vốn, kết quả hoạt động kinh doanh và khả năng chi trả, nhóm định lượng và định tính đều chiếm 50%. Đối với chất lượng tài sản, nhóm định lượng chiếm 67%, định tính chiếm 33%. Ngược lại, ở tiêu chí quản trị, điều hành, nhóm định tính chiếm tới 67%, trong khi nhóm định lượng chỉ chiếm 33%.

Theo bản so sánh, thuyết minh dự thảo, việc dành trọng số 30% cho quản trị, điều hành xuất phát từ vai trò của yếu tố con người, quy trình và quy định nội bộ đối với hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân. Cơ quan soạn thảo cũng nhận định những tồn tại, yếu kém của các quỹ thường xuyên xuất phát từ công tác quản trị, điều hành. Vì vậy, việc dành tỷ trọng đáng kể cho nhóm chỉ tiêu định tính trong tiêu chí này nhằm phản ánh rõ hơn chất lượng tổ chức và vận hành của mỗi quỹ.

Cách phân bổ trên cũng cho thấy định hướng đánh giá có sự phân biệt theo tính chất của từng nhóm rủi ro. Với chất lượng tài sản, các chỉ số định lượng được đặt tỷ trọng cao hơn để phản ánh trực tiếp tình hình tài sản và rủi ro tín dụng. Trong khi đó, ở quản trị, điều hành, việc tuân thủ quy định, thực hiện quy trình và duy trì hệ thống kiểm soát nội bộ được nhấn mạnh hơn.

Thiết lập ngưỡng xếp hạng mới

Không chỉ thay đổi phương pháp tính điểm, dự thảo còn điều chỉnh cách xác định thứ hạng quỹ tín dụng nhân dân. Theo Điều 18, tổng điểm xếp hạng được tính theo thang điểm 4, với bốn mức phân loại gồm A (Tốt), B (Khá), C (Trung bình) và D (Yếu).

Cụ thể, quỹ tín dụng nhân dân đạt từ 3,5 điểm trở lên được xếp hạng A; từ 3,0 đến dưới 3,5 điểm là hạng B; từ 2,0 đến dưới 3,0 điểm là hạng C; dưới 2,0 điểm thuộc hạng D.

So với quy định hiện hành sử dụng thang điểm 100, các ngưỡng phân loại được thiết kế lại theo thang điểm mới. Đáng chú ý, dự thảo xác định mức dưới 2 điểm là hạng D – Yếu. Theo phần thuyết minh, ngưỡng này nhằm thiết lập ranh giới rõ ràng đối với các quỹ tín dụng nhân dân có kết quả xếp hạng dưới mức trung bình, tạo cơ sở để Ngân hàng Nhà nước xem xét áp dụng các biện pháp quản lý phù hợp.

Một nội dung khác có thể tác động trực tiếp đến kết quả xếp hạng là quy định trừ điểm đối với báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán độc lập nhưng không có ý kiến chấp nhận toàn phần. Theo Điều 16 dự thảo, trường hợp báo cáo kiểm toán có ý kiến ngoại trừ, tổng điểm xếp hạng bị trừ 0,5 điểm. Nếu báo cáo có ý kiến trái ngược hoặc kiểm toán viên từ chối đưa ra ý kiến, mức trừ là 1 điểm. Trường hợp tổng điểm sau khi trừ theo quy định này có giá trị âm, điểm xếp hạng được tính bằng 0.

Về thời điểm áp dụng, dự thảo quy định phương pháp xếp hạng mới bắt đầu được thực hiện từ năm xếp hạng 2027. Riêng việc xếp hạng cho năm 2026, dù được tiến hành trong năm 2027, vẫn tiếp tục áp dụng Thông tư số 42/2016/TT-NHNN và Thông tư số 05/2021/TT-NHNN. Quy định chuyển tiếp này nhằm bảo đảm việc phân định rõ ràng giữa hai phương pháp xếp hạng.

Nhìn tổng thể, dự thảo vẫn duy trì khung 5 tiêu chí quen thuộc nhưng thay đổi cách lượng hóa kết quả và phân loại quỹ tín dụng nhân dân. Việc nhóm chỉ tiêu định tính chiếm một nửa tổng điểm, trong đó riêng tiêu chí quản trị, điều hành có tỷ trọng định tính lên tới 67%, cho thấy chất lượng quản trị và mức độ tuân thủ sẽ là những yếu tố đáng chú ý trong quá trình đánh giá.

Nếu được thông qua, phương pháp mới sẽ đặt ra yêu cầu đối với các quỹ tín dụng nhân dân không chỉ trong việc duy trì các chỉ số tài chính an toàn, mà còn phải chú trọng hoàn thiện quy trình nội bộ, nâng cao chất lượng quản trị và bảo đảm tuân thủ pháp luật. Đây cũng là cơ sở để cơ quan quản lý nhận diện rõ hơn những rủi ro trong hoạt động của từng quỹ, thay vì chỉ nhìn vào các chỉ số tài chính riêng lẻ.

Phượng Hòa