08:55 14/08/2026

Gạo Việt: Đã đến lúc xây dựng giá trị thay vì chỉ tính sản lượng

Xuất khẩu gạo Việt vẫn duy trì sản lượng lớn trong những năm qua, nhưng kim ngạch suy giảm cho thấy tăng trưởng bằng khối lượng đang bộc lộ giới hạn, theo đó, ngành gạo cần chuyển trọng tâm sang tăng giá trị.

Sản lượng lớn nhưng giá trị giảm

Việt Nam từ lâu tự hào là một trong những cường quốc xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, liên tục giữ vị trí thứ hai sau Ấn Độ. Bảy tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 5,5 triệu tấn gạo, thu về 2,64 tỷ USD. Đáng chú ý, lượng xuất khẩu tăng 0,5% nhưng kim ngạch lại giảm 6,7% so với cùng kỳ năm trước. Giá xuất khẩu bình quân khoảng 476,6 USD/tấn, giảm 7,1%.

Con số này phơi bày một nghịch lý dai dẳng: bán nhiều hơn nhưng thu về ít hơn. Nếu chỉ nhìn vào sản lượng, bức tranh xuất khẩu vẫn có vẻ tích cực. Nhưng nếu nhìn vào giá trị, ngành gạo đang đứng trước yêu cầu phải thay đổi cách tăng trưởng.

Gạo Việt Đã đến lúc xây dựng giá trị thay vì chỉ tính sản lượng
Sản lượng gạo xuất khẩu tăng mạnh (ảnh: VPG)

Câu chuyện “chạy đua sản lượng” đã đến lúc phải dừng lại. Thị trường thế giới không còn ưu ái những lô gạo trắng thông thường giá rẻ. Ấn Độ, Pakistan, Myanmar cạnh tranh quyết liệt ở phân khúc phổ thông, có lợi thế về sản lượng và chi phí, tiếp tục gây áp lực lên mặt bằng giá.

Thái Lan giữ vững vị thế với gạo Jasmine và cạnh tranh mạnh ở nhiều phân khúc. Người mua ngày càng khắt khe về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, truy xuất nguồn gốc, phát thải carbon và tiêu chuẩn bền vững. Nếu chỉ bán theo số tấn, gạo Việt sẽ mãi bị kẹt ở vòng xoáy giá thấp, lợi nhuận mỏng và dễ tổn thương trước biến động chính sách của vài thị trường lớn như Philippines.

Đây không phải câu chuyện của riêng một vài doanh nghiệp. Khi giá bán bình quân giảm, tác động có thể lan truyền từ doanh nghiệp xuất khẩu đến nhà máy chế biến, thương lái, vùng nguyên liệu và cuối cùng là người trồng lúa.

Vì vậy, câu hỏi quan trọng với ngành gạo hiện nay không còn đơn thuần là Việt Nam có thể xuất khẩu bao nhiêu triệu tấn, mà là mỗi tấn gạo có thể tạo ra bao nhiêu giá trị. Khi thị trường toàn cầu ngày càng cạnh tranh, sản lượng không còn đủ để phản ánh sức khỏe thực sự của ngành.

Diễn biến từ đầu năm 2026 đã cho thấy, hai tháng đầu năm, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,3 triệu tấn gạo, tăng 5% về lượng nhưng kim ngạch chỉ đạt 599,3 triệu USD, giảm 11,2% so với cùng kỳ. Giá xuất khẩu bình quân giảm 15,4%, xuống khoảng 464,1 USD/tấn.

Đến hết tháng 5, lượng xuất khẩu đạt khoảng 4,5 triệu tấn, tăng 6,6%, trong khi giá trị xuất khẩu khoảng 2,09 tỷ USD, giảm 3,6%. Và sau 7 tháng, lượng vẫn tăng nhưng kim ngạch tiếp tục giảm. Điều này cho thấy áp lực không nằm ở khả năng sản xuất hay năng lực đưa hàng ra thị trường. Vấn đề nằm nhiều hơn ở giá trị của sản phẩm được bán ra.

Một doanh nghiệp có thể ký thêm nhiều hợp đồng, tăng số tấn xuất khẩu nhưng vẫn không cải thiện đáng kể lợi nhuận nếu giá bán giảm mạnh. Ngược lại, một doanh nghiệp bán ít hơn nhưng có tỷ trọng gạo chất lượng cao lớn, kiểm soát tốt vùng nguyên liệu và xây dựng được thương hiệu có thể tạo ra giá trị cao hơn. Đây là lý do cần phân biệt giữa tăng trưởng sản lượng và tăng trưởng giá trị.

Nếu chỉ tiếp tục tăng lượng, ngành gạo có nguy cơ rơi vào vòng xoáy cạnh tranh bằng giá. Khi nguồn cung toàn cầu dồi dào, nước nào có chi phí thấp hơn sẽ có lợi thế. Việt Nam khi đó phải đối mặt với áp lực giảm giá để giữ thị phần.

Trong dài hạn, đây không phải mô hình tăng trưởng bền vững, một tấn gạo xuất khẩu không nên chỉ được xem là một đơn vị hàng hóa. Nó phải được xem là kết quả của cả chuỗi giá trị từ cánh đồng đến thị trường quốc tế.

Từ “bán cái mình có” sang “sản xuất cái thị trường cần”

Muốn chuyển từ tăng trưởng bằng lượng sang tăng trưởng bằng giá trị, thay đổi đầu tiên phải đến từ cơ cấu sản phẩm. Việt Nam không thiếu những giống lúa có chất lượng tốt. Gạo thơm, gạo đặc sản, gạo hữu cơ, gạo chất lượng cao và những sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn bền vững đều có khả năng tiếp cận phân khúc có giá bán cao hơn.

Một sản phẩm chỉ có thể bán giá cao khi thị trường nhận diện được sự khác biệt. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư vào thương hiệu, bao bì, tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc và hệ thống phân phối.

Gạo Việt Đã đến lúc xây dựng giá trị thay vì chỉ tính sản lượng
Xây dựng thương hiệu gạo Việt (ảnh: VPG)

Trong một thời gian dài, gạo Việt chủ yếu được biết đến thông qua quốc gia xuất xứ hoặc tên doanh nghiệp, thay vì những thương hiệu đủ mạnh để người tiêu dùng quốc tế chủ động tìm mua. Khi sản phẩm chưa có thương hiệu, khả năng định giá thường thấp hơn và doanh nghiệp dễ trở thành bên nhận giá từ thị trường.

Xây dựng thương hiệu vì thế không phải câu chuyện quảng bá đơn thuần. Nó liên quan trực tiếp đến khả năng giữ giá. Một thương hiệu gạo tốt phải trả lời được nhiều câu hỏi: Gạo được trồng ở đâu? Giống gì? Quy trình canh tác thế nào? Có truy xuất được nguồn gốc không? Tiêu chuẩn an toàn ra sao? Hương vị khác biệt ở đâu? Có ổn định giữa các lô hàng hay không?

Thực tế đã chỉ ra hướng đi đúng, tỷ trọng gạo thơm, gạo chất lượng cao trong xuất khẩu đang tăng mạnh, hướng tới mục tiêu khoảng 75% tổng lượng năm 2026. Giống ST25 – ba lần được vinh danh “Gạo ngon nhất thế giới” – cùng các dòng Đài Thơm 8, OM18, Japonica… đã giúp giá bình quân của gạo Việt cao hơn nhiều so với gạo trắng thông thường. Gạo phát thải thấp từ Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp ở Đồng bằng sông Cửu Long cũng bắt đầu chạm tới thị trường Nhật Bản và các nước khó tính khác.

Nhưng thành công của vài giống đặc sản chưa đủ. Thương hiệu quốc gia “Gạo Việt Nam” vẫn còn mờ nhạt so với Hom Mali của Thái hay Basmati của Ấn Độ. Nhiều lô hàng vẫn xuất dưới tên nhà nhập khẩu nước ngoài. Chuỗi liên kết từ ruộng đến cảng còn lỏng lẻo, chất lượng không đồng đều, chi phí logistics và chế biến còn cao. Kết quả là nông dân và doanh nghiệp chia nhau phần lợi nhuận mỏng, trong khi giá trị gia tăng phần lớn thuộc về khâu phân phối nước ngoài.

Tuy nhiên, không thể xây dựng thương hiệu cao cấp nếu nguyên liệu đầu vào biến động. Không thể đáp ứng tiêu chuẩn của những thị trường khó tính nếu doanh nghiệp không kiểm soát được quy trình từ giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đến thu hoạch và bảo quản. Liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân vì thế cần chuyển từ quan hệ mua bán ngắn hạn sang liên kết chuỗi.

Doanh nghiệp cần có vùng nguyên liệu đủ ổn định để kiểm soát chất lượng. Người nông dân cần có đầu ra và tiêu chuẩn sản xuất rõ ràng. Nhà máy chế biến phải đủ năng lực phân loại, bảo quản và đáp ứng các yêu cầu khác nhau của thị trường. Khi chuỗi được kết nối, giá trị gia tăng mới có khả năng được phân bổ tốt hơn.

Thị trường xuất khẩu cũng cần được nhìn lại, Philippines tiếp tục là thị trường lớn của gạo Việt Nam, nhưng việc phụ thuộc quá lớn vào một vài thị trường có thể khiến doanh nghiệp chịu sức ép khi chính sách nhập khẩu thay đổi hoặc bên mua đàm phán giá.

Đa dạng hóa thị trường vì vậy không chỉ để tăng sản lượng mà còn để tăng khả năng lựa chọn phân khúc. Trung Quốc có thể mở ra nhu cầu đối với gạo chất lượng cao và gạo thơm. Indonesia có nhu cầu nhập khẩu tùy thuộc tình hình sản xuất trong nước. Các thị trường châu Phi có quy mô tiêu thụ lớn. Trong khi đó, các thị trường phát triển lại tạo cơ hội cho sản phẩm có chứng nhận, tiêu chuẩn và câu chuyện thương hiệu.

Mỗi thị trường cần một chiến lược sản phẩm khác nhau, đây là cách ngành gạo có thể thoát khỏi tư duy “bán một loại gạo cho nhiều thị trường” để chuyển sang “phát triển nhiều sản phẩm cho nhiều phân khúc”. Ngoài gạo ăn trực tiếp, chế biến sâu cũng là hướng quan trọng. Các sản phẩm từ gạo, phụ phẩm gạo và các dòng thực phẩm chế biến có thể tạo thêm giá trị thay vì chỉ xuất khẩu nguyên liệu.

Nếu chỉ bán gạo nguyên liệu, giá trị tạo ra sẽ phụ thuộc nhiều vào cung cầu thế giới. Nếu phát triển được hệ sinh thái sản phẩm từ lúa gạo, doanh nghiệp có thể giảm bớt sự phụ thuộc vào biến động của giá hàng hóa. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng khó dự báo, yếu tố bền vững cũng sẽ trở thành lợi thế cạnh tranh. Những vùng sản xuất tiết kiệm nước, giảm phát thải, sử dụng đầu vào hiệu quả và có khả năng truy xuất sẽ có nhiều cơ hội tiếp cận các thị trường yêu cầu cao.

Ba trụ cột để nâng giá trị hạt gạo

Đầu tiên là việc chuẩn hóa vùng nguyên liệu và truy xuất nguồn gốc. Cần nhân rộng các mô hình liên kết chặt giữa doanh nghiệp – hợp tác xã – nông dân theo đơn hàng. Áp dụng nghiêm ngặt VietGAP, GlobalGAP, SRP và hệ thống truy xuất số. Chỉ khi hạt gạo có “hộ chiếu” rõ ràng về giống, quy trình canh tác và phát thải, mới đủ điều kiện vào siêu thị châu Âu, Nhật Bản hay Mỹ với mức giá cao hơn 20–30%.

Tiếp đó là xây dựng thương hiệu và đa dạng hóa sản phẩm. Ngoài việc đẩy mạnh gạo thơm, gạo đặc sản, cần phát triển mạnh các sản phẩm chế biến sâu: gạo đóng túi thương hiệu Việt, bún phở khô, cơm ăn liền, bột gạo… Đây là cách tăng giá trị gấp nhiều lần so với xuất thô. Đồng thời, đăng ký và bảo hộ nhãn hiệu chứng nhận quốc gia, đặc biệt cho nhóm ST, để tránh tình trạng giả mạo và nâng tầm nhận diện trên toàn cầu.

Tận dụng FTA và chuyển dịch thị trường. Các hiệp định thương mại tự do mở cửa nhiều thị trường tiềm năng. Bên cạnh Philippines, Trung Quốc, cần tăng cường sang Nhật, Hàn, EU, Mỹ, Trung Đông và châu Phi bằng các lô hàng chất lượng cao, có câu chuyện về phát thải thấp và phát triển bền vững. Chính sách hỗ trợ tín dụng linh hoạt, hoàn thuế nhanh, đầu tư logistics và chế biến cũng là điều kiện cần để doanh nghiệp dám đầu tư dài hạn.

Không chỉ là câu chuyện kinh tế Chuyển từ sản lượng sang giá trị không chỉ giúp tăng kim ngạch xuất khẩu. Nó bảo vệ thu nhập của hàng triệu nông dân ĐBSCL trước biến đổi khí hậu, giảm áp lực lên môi trường, và quan trọng hơn, nâng tầm hình ảnh nông sản Việt Nam trên bản đồ thế giới. Một hạt gạo thơm mang thương hiệu Việt, được đóng gói đẹp, có truy xuất rõ ràng và đạt chuẩn xanh sẽ kể câu chuyện về một nền nông nghiệp trách nhiệm, hiện đại và tự tin.

Năm 2026 và những năm tới, ngành lúa gạo Việt Nam đứng trước lựa chọn rõ ràng: tiếp tục chạy theo số tấn và chấp nhận lợi nhuận mỏng, hay quyết liệt xây dựng giá trị để mỗi hạt gạo mang về nhiều hơn – không chỉ tiền bạc, mà còn vị thế và sự bền vững. Thời điểm đã chín muồi. Hành động càng sớm, lợi thế càng lớn.

Điều này cho thấy nâng giá trị không phải một bước đi ngắn hạn. Chỉ cần giá trị bình quân trên mỗi tấn tăng, tổng giá trị xuất khẩu cũng có thể cải thiện ngay cả khi sản lượng không tăng quá mạnh. Đó mới là hướng tăng trưởng phù hợp khi nguồn cung toàn cầu ngày càng cạnh tranh. Gạo Việt không thiếu sản lượng, nhưng cần thêm giá trị trên từng tấn hàng. Khi chất lượng, thương hiệu, vùng nguyên liệu và chế biến sâu được đặt vào trung tâm, xuất khẩu mới có thể tăng trưởng bền vững thay vì chỉ chạy theo khối lượng.

Phượng Hòa