Trong bối cảnh tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp toàn cầu đang chuyển từ lợi thế chi phí sang năng lực dữ liệu, minh bạch, thích ứng và phát triển bền vững, doanh nghiệp Việt cần đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng chuẩn sản xuất và tăng khả năng kết nối để tham gia sâu hơn vào các công đoạn có giá trị gia tăng cao.
Doanh nghiệp Việt cần nâng năng lực để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu
Phát biểu tại Diễn đàn đối thoại “Việt Nam và ASEAN trong chuỗi giá trị toàn cầu: Từ tín hiệu đến hành động”, ông Nguyễn Đức Huy - Phó Giám đốc Trung tâm Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 tại TP Hồ Chí Minh (HCMC C4IR), trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang trải qua nhiều biến động, việc làm rõ điều gì thực sự quyết định một doanh nghiệp có tham gia được vào chuỗi giá trị toàn cầu hay không trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Những biến động địa chính trị trong thời gian qua đã tác động đến chi phí đầu vào của các doanh nghiệp sản xuất, cho thấy mức độ nhạy cảm của các nền kinh tế có chuỗi cung ứng phụ thuộc vào một số điểm kết nối nhất định.
Ông Nguyễn Đức Huy - Phó Giám đốc HCMC C4IR
Đồng thời, Báo cáo Triển vọng Chuỗi giá trị toàn cầu năm 2026 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới công bố tại Diễn đàn Davos ngày 19/1/2026 cho thấy rằng phần lớn lãnh đạo doanh nghiệp sản xuất trên thế giới đang ưu tiên tổ chức lại chuỗi cung ứng theo hướng khu vực hóa, dựa trên các yếu tố về mức độ sẵn sàng cung ứng chứ không chỉ đơn thuần là chi phí lao động. Bên cạnh đó, việc điều chỉnh chính sách thuế quan của các nền kinh tế lớn, trong đó có mức thuế riêng áp dụng đối với hàng hóa trung chuyển, cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với các nền kinh tế còn phụ thuộc vào công đoạn lắp ráp có giá trị gia tăng thấp.
Phó Giám đốc HCMC C4IR cho rằng, ba diễn biến nêu trên có chung một hàm ý đó là tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp trong chuỗi giá trị toàn cầu đã thay đổi. Doanh nghiệp được lựa chọn không còn chủ yếu vì làm ra sản phẩm với chi phí thấp nhất thay vào đó phải chứng minh được năng lực về dữ liệu, tiêu chuẩn, tốc độ sản xuất để đáp ứng với nhu cầu cấp thiết và cũng như mức độ minh bạch trong toàn bộ quá trình vận hành.
Đối với Việt Nam, thực trạng hiện nay của chúng ta là: kim ngạch xuất khẩu năm 2024 đạt 405,5 tỷ USD, tăng 14,3% so với năm trước, nhưng khu vực doanh nghiệp trong nước chỉ đóng góp 28,3% con số đó. Đáng lưu ý hơn, theo Báo cáo Việt Nam 2045 của Ngân hàng Thế giới, tỷ lệ tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp nội địa đã giảm từ 35% năm 2009 xuống còn 18% năm 2023 suy giảm liên tục trong suốt mười bốn năm, diễn ra song song với quá trình tăng trưởng xuất khẩu.
"Điều này cho thấy, thách thức của chúng ta không nằm ở năng lực xuất khẩu, mà nằm ở vị trí mà doanh nghiệp đang đứng trong mạng lưới tạo ra giá trị", Phó Giám đốc HCMC C4IR nhấn mạnh.
Theo đó, đây không phải là vấn đề riêng của một quốc gia. Nhà mua hàng toàn cầu hiện nay không tìm kiếm một nhà cung cấp đơn lẻ, mà tìm kiếm một cụm cung ứng có đủ quy mô, đủ độ tin cậy và đủ khả năng bù đắp cho nhau khi xảy ra gián đoạn. Một doanh nghiệp chuyển đổi đơn lẻ, hay một quốc gia chuyển đổi đơn lẻ, không tạo ra được quy mô và độ tin cậy như vậy.
Ở cấp độ khu vực, khoảng cách còn rất lớn. ASEAN đã dành 30 năm để dỡ bỏ thuế quan giữa các thành viên và về cơ bản đã làm được điều đó. Tuy nhiên, thương mại nội khối hiện vẫn chỉ chiếm khoảng một phần năm tổng thương mại của khu vực, thấp hơn nhiều so với mức của Liên minh châu Âu. Doanh nghiệp hoạt động xuyên khu vực vẫn nhận thấy việc di chuyển một linh kiện, một lô hàng hay một tệp dữ liệu giữa hai quốc gia thành viên còn là một thách thức. Nguyên do không còn nằm ở thuế quan, mà nằm ở thủ tục giấy tờ, tiêu chuẩn, chứng nhận và các hệ thống không kết nối được với nhau.
Để doanh nghiệp có thể sử dụng được Khung Kinh tế số đó, Phó Giám đốc HCMC C4IR cho rằng năng lực nội tại của doanh nghiệp phải thay đổi trước, cụ thể là chuyển đổi sang sản xuất thông minh, từ khả năng ứng dụng công nghệ số trong sản xuất, khả năng minh bạch hóa dữ liệu chuỗi cung ứng, khả năng kết nối hệ thống sản xuất với hệ thống quản trị của đối tác, và năng lực duy trì tiêu chuẩn ổn định ở quy mô lớn. Đây không phải là một xu hướng công nghệ để tham khảo, mà là điều kiện để bước vào mạng lưới. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp mới có điều kiện tham gia sâu hơn vào các công đoạn tạo giá trị cao, thay vì tiếp tục dừng lại ở công đoạn gia công, lắp ráp có giá trị gia tăng thấp.
Yêu cầu mới từ phía mua hàng quốc tế
Thực tế từ các nhà mua hàng toàn cầu cho thấy tiêu chí đánh giá nhà cung cấp đã thay đổi rõ rệt trong khoảng ba năm trở lại đây. Bên cạnh những yếu tố nền tảng như chất lượng, chi phí, năng lực sản xuất, tuân thủ và tiến độ giao hàng, ba nhóm yêu cầu mới đang dần trở thành điều kiện tham gia.
Cụ thể, Kết nối số và minh bạch dữ liệu: Khả năng trao đổi thông tin liền mạch, cung cấp dữ liệu đáng tin cậy về sản xuất và tồn kho, đồng thời kết nối được với các quy trình làm việc số của khách hàng. Khả năng luân chuyển dữ liệu hiệu quả đang trở nên quan trọng gần ngang với khả năng luân chuyển hàng hóa hiệu quả.
Cùng với đó, khả năng chống chịu và thích ứng nhanh: Ứng phó kịp thời với những thay đổi về nhu cầu, gián đoạn nguồn cung, thiếu hụt nguyên vật liệu hay thay đổi về quy định. Những gián đoạn trong vài năm qua cho thấy chỉ hiệu quả thôi là chưa đủ.
Đồng thời, tính bền vững và trách nhiệm trong vận hành: Chứng minh được những tiến bộ có thể đo lường về tác động môi trường, phúc lợi người lao động và khả năng truy xuất nguồn gốc xuyên suốt chuỗi giá trị.
Điểm chuyển dịch đáng chú ý là ở cách đánh giá là trước đây, nhà cung cấp chủ yếu được nhìn nhận dựa trên năng lực sản xuất được gì; hiện nay còn được đánh giá dựa trên cách vận hành - mức độ minh bạch, tinh thần trách nhiệm và khả năng hợp tác trong một chuỗi giá trị toàn cầu ngày càng kết nối chặt chẽ.
Ảnh minh họa
Trong bối cảnh chuỗi giá trị toàn cầu đang dịch chuyển, ASEAN có cơ hội định vị mình là một trung tâm sản xuất đáng tin cậy trong bối cảnh các thị trường ngày càng phân mảnh. Lợi thế của khu vực nằm ở khả năng kết nối các năng lực bổ trợ của từng quốc gia thông qua việc xây dựng và phát triển các chuỗi giá trị khu vực. Khả năng liên thông và tương tác trong khu vực thông qua việc hài hòa các tiêu chuẩn số, phát triển công nghệ và tăng cường hợp tác nhân tài có thể khai mở quy mô, nâng cao khả năng chống chịu và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, qua đó thu hút đầu tư chất lượng cao, giữ lại nhiều hơn giá trị gia tăng và duy trì tăng trưởng dài hạn.
Nguyễn Trang