Chi phí tăng, chính sách thương mại thay đổi và xu hướng chính trị thay đổi đang thúc đẩy các thương hiệu đa dạng hóa nguồn cung ứng tại châu Á. Và với sự tăng trưởng mạnh mẽ của mình, Đông Nam Á đang trở thành miếng bánh hấp dẫn các thương hiệu toàn cầu trong nỗ lực điều chỉnh chuỗi cung ứng.
Trong khi thị trường xa xỉ của Trung Quốc đang chậm lại, xu hướng dân số ở Đông Nam Á (ASEAN) là một cơ hội đáng kể cho ngành thời trang nói chung. Đến năm 2030, khi 70% dân số ASEAN - hiện ở mức hơn 670 triệu người, theo dự báo của McKinsey & Company thị trường tiêu dùng khu vực này có thể đạt 4 nghìn tỷ USD.
Hơn nữa, theo báo cáo chung của Temasek và Google cùng nhiều tổ chức khác, nền kinh tế số tại sáu nền kinh tế lớn nhất khu vực, gồm Indonesia, Thái Lan, Singapore, Việt Nam, Malaysia và Philippines có giá trị hàng hóa gộp ước tính là 218 tỷ USD vào năm 2023 và đang trên đà đạt 600 tỷ USD vào năm 2030.
Vậy cấu trúc cung ứng nào trong khu vực sẽ giúp các doanh nghiệp tận dụng được xu hướng tăng trưởng của Đông Nam Á và đáp ứng được nhu cầu đó?
Điều chỉnh chuỗi cung ứng theo thị trường tăng trưởng
Trong một sự kiện được tổ chức mới đây của Business of Fashion, ông Sian Nee Ho, giám đốc khu vực châu Mỹ của Ban Phát triển Kinh tế Singapore (EDB), cho rằng thực sự không có cách tiếp cận nào phù hợp với tất cả. Các công ty cuối cùng sẽ phải xem xét lại cơ sở nhà cung cấp khách hàng tổng thể của họ ở châu Á để xác định chiến lược chuỗi cung ứng tối ưu cho phép họ quản lý tốt nhất chi phí của mình, đồng thời đảm bảo tốc độ đưa sản phẩm ra thị trường và khả năng phục hồi tổng thể trong bối cảnh chuỗi cung ứng bị gián đoạn.
Những gì chúng ta đang thấy là người tiêu dùng đang tăng kỳ vọng của họ xung quanh việc giao hàng nhanh hơn. Hiện nay, nhiều thương hiệu đang chuyển hướng khỏi các trung tâm phân phối tập trung và áp dụng các trung tâm phân phối nhỏ hơn nhưng theo khu vực để cải thiện thời gian đưa sản phẩm ra thị trường. Điều này cũng có thể được thực hiện thông qua quan hệ đối tác với nhiều bên tham gia dịch vụ hậu cần khác nhau.
Thực tế, các thương hiệu đang tăng cường đầu tư vào năng lực quản lý chuỗi cung ứng, bao gồm phân tích dữ liệu mạnh mẽ hơn để hỗ trợ tối ưu hóa hàng tồn kho trên nhiều kênh phân phối và quốc gia khác nhau.
Chức năng chuỗi cung ứng nói chung đang trở nên mang tính chiến lược hơn và các công ty đang tích cực suy nghĩ về cách mở rộng các nhóm đó. Theo ông Sian Nee Ho, thì hầu hết các công ty hiện nay đều có cùng một chức năng toàn cầu. Những công ty có tư duy tiến bộ hơn cũng hướng đến các chuỗi cung ứng khu vực này, không chỉ ở Hoa Kỳ hoặc bất kỳ nơi nào họ đặt trụ sở chính, mà còn có trên khắp các khu vực chính nơi họ hoạt động, để họ có thể xử lý các tình huống hoặc hoàn cảnh bất ngờ phát sinh.
Trong khi đó, ông Tony Pelli, giám đốc thực hành về an ninh và khả năng phục hồi chuỗi cung ứng tại BSI Consulting thông tin, rằng những gì chúng ta đang thấy là việc triển khai các trung tâm phân phối gần hơn với người tiêu dùng, cho phép các công ty có nhiều tuyến đường tiếp cận thị trường hơn, thông qua các cửa hàng truyền thống, trực tiếp đến người tiêu dùng cũng như cho phép phân phối đa kênh nhiều hơn.
Vẫn biết vận tải đường biển, vận chuyển hàng hóa nói chúng sẽ không sớm thay đổi. Nhưng, theo ông Pelli, có thể các doanh nghiệp đang suy nghĩ về chuỗi cung ứng của họ, làm thế nào họ có thể đưa các sản phẩm khác nhau đến tay người tiêu dùng nhanh hơn, cùng với những đòi hỏi phải có những thay đổi trong toàn bộ chuỗi cung ứng, và tác động đến các chiến lược tìm nguồn cung ứng và mua hàng, ngoài trừ phân phối.
Chúng ta đang chứng kiến những thay đổi nhanh hơn trong nhu cầu của người tiêu dùng, vốn đã tăng tốc trong đại dịch và vẫn chưa chậm lại. Tuy nhiên, ông Pelli, cho rằng tầm quan trọng ngày càng tăng của tốc độ đưa sản phẩm ra thị trường có thể là con dao hai lưỡi, vì nó đòi hỏi bạn phải giữ ít hàng tồn kho hơn, nghĩa là bạn có ít khả năng phục hồi hơn trong toàn bộ chuỗi cung ứng. Tất cả là về việc tìm ra sự cân bằng phù hợp, đó là điều mà các công ty đang phải vật lộn hiện nay.
Các nhà phân tích lưu ý, rằng trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị sẽ còn tiếp diễn, các vấn đề liên quan đến Biển Đỏ vừa qua đã khiến chi phí vận chuyển đường biển tăng gấp 3 đến 5 lần kể từ đầu năm 2024, đi kèm đó là nguy cơ từ cuộc chiến thương mại của Trung Quốc có thể dẫn đến tình trạng tích trữ hàng tồn kho, và tình trạng tắc nghẽn tại cảng.
Bất chấp Trung Quốc đã phục vụ lợi ích của các công ty Hoa Kỳ trong hai thập kỷ qua, nhiều công ty hiện đã nhận thức được việc cần phải đa dạng hóa chuỗi cung ứng và sản xuất của họ sang các biên giới tăng trưởng mới.
Thực tế, chúng ta đã chứng kiến sự tăng trưởng to lớn ở Đông Nam Á như một sự thay thế cho các sản phẩm tiêu dùng, chất bán dẫn, công nghiệp và thậm chí là đầu tư vào các cơ sở sở chính. Vì vậy, sự tăng trưởng ở Đông Nam Á cũng đã chuyển thành sự gia tăng trong thương mại liên khu vực trong phạm vi châu Á, với tỷ lệ hàng hoá xuất khẩu lớn của khu vực này hướng đến các quốc gia châu Á khác, cũng như thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá sang các nước phương Tây.
Là một trung tâm quan trong trong chuỗi cung ứng ở Đông Nam Á và là các quốc gia có nhiều điều kiện thuận lợi cho dòng chảy thương mại, Việt Nam và Singapore muốn trở thành van xả áp lực cho các công ty bằng cách cung cấp một số tính linh hoạt, chắc chắn và hiệu quả. Nhiều ông lớn trong các lĩnh vực vận chuyển như FedEx đã có mặt và tiếp tục mở rộng hoạt động tại đây… càng cho thấy sự thay đổi trong chuỗi cung ứng, khi Đông Nam Á tiếp tục vị thế dẫn đầu cho các doanh nghiệp trong việc năm bắt các cơ hội làm ăn tại đây.
Tránh sự gián đoạn, giảm thiểu rủi ro và hướng đến trung tâm tăng trưởng
Chúng ta có thể nhìn nhận câu chuyện từ Apple, gã khổng lồ sản xuất iPhone này đã sử dụng chiến lược chuỗi cung ứng của mình như một lợi thế cạnh tranh, bằng cách có mặt ở những nơi trước khi các đối thủ cạnh tranh có mặt.
Chẳng hạn, trong thời điểm đại dịch Covid-19, khi có lệnh phong tỏa ở Thượng Hải, Apple đã nhanh chóng chuyển sang các lĩnh vực hoạt động mới, các lĩnh vực cung ứng và sản xuất mới. Trong ngành công nghiệp xa xỉ, nói rộng hơn hoặc trong các mặt hàng có giá thành cao hơn, các thương hiệu có thể sử dụng điều đó như một lợi thế cạnh tranh, thay vì chỉ thực hiện một biện pháp giảm thiểu rủi ro.
Tất nhiên, không chỉ các thương hiệu như Apple, còn có nhiều doanh nghiệp khác cần phải thích ứng với bối cảnh mới để gần gũi hơn với người tiêu dùng ở những nơi như Đông Nam Á. Bên cạnh trung tâm lớn như Singapore, Đông Nam Á còn có rất nhiều trung tâm vệ tinh như Việt Nam, Indonesia và Malaysia.
Thái Lan là một nơi khác mà mọi người cũng có thể đầu tư, nhưng về phía nhà cung cấp, thì Việt Nam là quốc gia dẫn đầu. Hiện có rất nhiều công ty quản lý chuỗi cung ứng có trụ sở tại Đài Loan, Hàn Quốc và Trung Quốc, đang mở rộng sang Việt Nam. Và đây được cho là một trong những “hấp lực” lớn thu hút sự quan tâm của các thương hiệu toàn cầu trong một khu vực Đông Nam Á năng động.
Dù vậy, theo ông Sian Nee Ho, Trung Quốc vẫn sẽ tiếp tục là thị trường quan trọng đối với nhiều công ty, vì vậy, điều quan trọng là tìm ra mức độ hiện diện mà các công ty cần có tại Trung Quốc để có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu của dân số đó. Đồng thời tìm ra giải pháp thay thế khi các công ty có thể đa dạng hóa một số hoạt động sản xuất và chuỗi cung ứng của mình để đảm bảo tính trung lập và kết nối tốt.
Các giải pháp thay thế mà chúng ta có thể đang thấy, chẳng hạn như Mexico và Canada là những quốc gia chú trọng hơn vào việc đầu tư sản xuất và công nghệ; Ấn Độ cho các lĩnh vực như thuốc generic và đồ điện tử tiêu dùng; chưa kể đến Đông Nam Á cho nhiều sản phẩm tiêu dùng, chất bán dẫn và đầu tư vào trụ sở chính hơn.
Và những gì chúng ta đang thấy ở Đông Nam Á, trong đó Việt Nam hay Singapore đều là nơi cam kết phát triển kết nối hàng không và đường biển thông qua việc mở rộng sân bay và cảng biển. Điều này sẽ cho phép Việt Nam, Singapore tiếp tục kết nối và đóng vai trò là nút quan trọng trong mạng lưới thương mại và chuỗi cung ứng toàn cầu.
Ông Tony Pelli nhận định, nếu xét theo từng quốc gia, Indonesia và Việt Nam chắc chắn có dân số đông, trong đó Việt Nam có mối liên hệ khá tốt với Trung Quốc ở một đầu và Singapore ở đầu kia.
Riêng với những vấn đề trong chuỗi cung ứng hàng may mặc hoặc chuỗi cung ứng thời trang, ông Pelli lưu ý, các thương hiệu nên xem xét vấn đề này trong toàn bộ quá trình, từ khâu tìm nguồn cung ứng cho đến việc quản lý nhà cung cấp theo cách thông thường. Đồng thời hãy đảm bảo rằng các thương hiệu nên thực hiện điều đó ngay từ đầu, bởi chúng ta sẽ thấy thời trang, đặc biệt là ở một nơi như Việt Nam sẽ có tác động rất lớn.
Thái Lan và Malaysia có thể ít liên quan hơn một chút đến thời trang, nhưng họ có thể tăng thêm giá trị sản xuất cao hơn mà một số khu vực khác không thể. Một lần nữa, tất cả đều tập trung xung quanh trục khu vực mà Việt Nam, Singapore như một trung tâm phân phối qua Đông Nam Á, qua phần còn lại của Đông Á và sau đó là phần còn lại của thế giới.
Quan điểm từ các chuyên gia của EDB, BSI Consulting về những gì đang phát triển trong khu vực, đang cho thấy rõ điểm mạnh và điểm yếu của từng quốc gia. Điều mà các chuyên gia nhấn mạnh, rằng “nếu các công ty thông minh, họ có thể quản lý những điểm yếu đó cũng như biến chúng thành lợi thế cạnh tranh để có thể nhanh chóng chuyển dịch và thay đổi chuỗi cung ứng khi cần”.
Minh Đức