Kết luận thanh tra của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã chỉ ra hàng loạt vi phạm trong công bố thông tin; hoạt động cung cấp dịch vụ liên quan đến chào bán trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ; hoạt động môi giới chứng khoán; dịch vụ ứng trước tiền bán chứng khoán của Công ty cổ phần chứng khoán Dầu khí.
Ngày 18/4/2025, Thanh tra Ủy ban chứng khoán Nhà nước ban hành Kết luận Thanh tra số 24/KL-TT về việc thanh tra tại Công ty cổ phần chứng khoán Dầu khí.
Kết luận thanh tra chỉ ra Chứng khoán Dầu khí có nhiều vi phạm liên quan đến hoạt động cung cấp dịch vụ liên quan đến chào bán trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ của tổ chức đăng ký giao dịch. Cụ thể, trong thời kỳ thanh tra, theo báo cáo của Công ty, Công ty đã ký các Hợp đồng cung cấp dịch vụ cho 29 đợt chào bán trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ (TPDNRL) của 24 tổ chức phát hành (TCPH).
Thanh tra UBCKNN đã kiểm tra chọn mẫu đối với hồ sơ cung cấp dịch vụ liên quan đến chào bán TPDNRL của Công ty cho 05 TCPH gồm: Công ty cổ phần Thương mại và Dịch vụ Danh Việt (mã trái phiếu DVCCH2224001), Công ty cổ phần Thương mại - Đầu tư Dầu khí Nam Sông Hậu (mã trái phiếu PSHH2224002 và PSHH2224003), Công ty cổ phần Đầu tư Xây dựng Trung Nam (mã trái phiếu TNGCH2223004) và Công ty cổ phần Fecon (mã trái phiếu FCNH2325001).
Kết quả kiểm tra chọn mẫu tài liệu xác định tư cách nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp do Công ty thực hiện theo ủy quyền của 05 TCPH nêu trên cho thấy, Công ty không lưu trữ đầy đủ tài liệu xác định tư cách nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, vi phạm quy định tại khoản 1 và khoản 5 Điều 4 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán.
Công ty chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm trong việc rà soát hồ sơ chào bán trái phiếu của TCPH (Bản công bố thông tin (CBTT) trước đợt phát hành trái phiếu), vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 14 Nghị định số 153/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy định về chào bán, giao dịch TPDNRL tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế (Nghị định số 153/2020/NĐ-CP).
Đối với hồ sơ phát hành trái phiếu riêng lẻ của Công ty cổ phần Thương mại và Dịch vụ Danh Việt (mã trái phiếu DVCCH2224001): Bản CBTT không nêu thông tin về hiện trạng pháp lý của tài sản bảo đảm theo Mẫu Bản CBTT trước đợt phát hành tại Mục III.10 Phụ lục I Thông tư số 122/2020/TT-BTC ngày 31/12/2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ công bố thông tin và báo cáo theo quy định của Nghị định số 153/2020/NĐ-CP (Thông tư số 122/2020/TT-BTC).
Đối với hồ sơ phát hành trái phiếu riêng lẻ (mã trái phiếu H39CH2224003): Thông tin về kế hoạch sử dụng tiền thu được từ đợt phát hành trái phiếu (mục IV.1) tại Bản CBTT phát hành trái phiếu H39CH004003 không nêu thời gian giải ngân nguồn vốn từ phát hành trái phiếu theo Mục IV.1 Phụ lục I Thông tư số 122/2020/TT-BTC.
Đối với hồ sơ phát hành trái phiếu riêng lẻ của Công ty cổ phần Thương mại Đầu tư Dầu khí Nam Sông Hậu (mã trái phiếu PSHH2224002 và PSHH2224003): Thông tin về kế hoạch sử dụng tiền thu được từ đợt phát hành trái phiếu (mục IV.1) tại Bản CBTT không nêu thời gian giải ngân nguồn vốn từ phát hành trái phiếu theo Mục IV.1 Phụ lục I Thông tư số 122/2020/TT-BTC.
Đối với hồ sơ phát hành trái phiếu riêng lẻ của Công ty cổ phần Đầu tư Xây dựng Trung Nam (mã trái phiếu TNGCH2223004): (1) Thông tin về kế hoạch sử dụng tiền thu được từ đợt phát hành trái phiếu (mục IV.1) tại Bản CBTT phát hành trái phiếu không nêu thời gian giải ngân nguồn vốn từ phát hành trái phiếu theo Mục IV.1 Phụ lục I Thông tư số 122/2020/TT-BTC; (2) Bản CBTT chưa nêu thông tin về hiện trạng pháp lý của tài sản bảo đảm theo Mẫu Bản CBTT trước đợt phát hành tại Mục III.10 Phụ lục I Thông tư số 122/2020/TT-BTC.
Đối với hồ sơ phát hành trái phiếu riêng lẻ của Công ty cổ phần FECON (mã trái phiếu FCNH2325001): Bản CBTT chưa nêu thông tin về giá trị tài sản, hiện trạng pháp lý của tài sản bảo đảm nêu trên, tên tổ chức định giá theo Mẫu Bản CBTT trước đợt phát hành tại Mục III.10 Phụ lục I Thông tư số 122/2020/TT-BTC.
Chứng khoán Dầu khí chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm trong việc rà soát hồ sơ chào bán trái phiếu
Cũng theo kết luận thanh tra, Chứng khoán Dầu khí có nhiều vi phạm liên quan đến hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính theo hình thức Hợp đồng hợp tác đầu tư chứng khoán ký giữa 3 bên.
Trong thời kỳ thanh tra, Công ty đã ký kết các Hợp đồng hợp tác đầu tư chứng khoán 03 bên (Hợp đồng hợp tác đầu tư chứng khoán ngày 27/12/2023 và Hợp đồng hợp tác đầu tư chứng khoán ngày 28/06/2024 giữa Công ty với khách hàng và bên thứ 3), theo đó bên thứ ba và khách hàng cùng hợp tác đầu tư trên cơ sở số dư trên tài khoản giao dịch chứng khoán của khách hàng, trong đó bên thứ ba góp vốn; Công ty thực hiện quản lý tài khoản giao dịch chứng khoán của khách hàng mở tại Công ty, bao gồm nhưng không giới hạn trong việc phong tỏa/giải tỏa chứng khoán, theo dõi, giám sát, cảnh báo/xử lý khi giá trị tài sản hợp tác biến động.
Việc Công ty phối hợp, hỗ trợ cho bên thứ ba và khách hàng thực hiện Hợp đồng hợp tác đầu tư chứng khoán là hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính khi chưa báo cáo UBCKNN, vi phạm quy định tại khoản 5 Điều 86 Luật Chứng khoán.
Kiểm tra hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính thông qua việc ký kết đề nghị cho vay, hợp đồng vay vốn từng lần, hợp đồng quản lý tiền từ tài khoản chứng khoán tự động, trong kỳ thanh tra, Thanh tra ghi nhận Chứng khoán Dầu khí thực hiện cung cấp dịch vụ tài chính cho khách hàng qua các hình thức: đề nghị cho vay, hợp đồng vay vốn từng lần, hợp đồng quản lý tiền từ tài khoản chứng khoán tự động, nội dung các hợp đồng có điều khoản khách hàng đồng ý cho Công ty vay một khoản tiền, có quy định lãi suất và thời hạn vay cụ thể, Công ty thực hiện trích số tiền khách hàng cho Công ty vay trên tài khoản giao dịch chứng khoán của khách hàng để thực hiện hợp đồng.
Theo báo cáo của Công ty, Công ty đã dừng thực hiện hợp đồng quản lý tiền từ tài khoản chứng khoán từ ngày 05/01/2024. Đối với Hợp đồng vay vốn từng lần, Công ty thực hiện qua hình thức khách hàng thực hiện cho vay qua ứng dụng trên điện thoại (app PSI Mobile), Công ty thực hiện trích số tiền cho vay trên tài khoản giao dịch chứng khoán theo ủy quyền của khách hàng. Tại ngày 18/12/2024, Công ty còn dư nợ là 325.959 triệu đồng với 620 khách hàng (khách hàng thực hiện qua app PSI Mobile). Đối với Đề nghị cho vay (khách hàng ký hợp đồng trực tiếp với Công ty), Công ty còn dư nợ 385.297 triệu đồng với 103 khách hàng.
Việc Công ty cung cấp dịch vụ tài chính thông qua việc ký kết đề nghị cho vay, hợp đồng vay vốn từng lần, hợp đồng quản lý tiền từ tài khoản chứng khoán tự động khi chưa báo cáo UBCKNN là vi phạm quy định tại khoản 5 Điều 86 Luật Chứng khoán.
Đáng chú ý, liên quan đến hoạt động phối hợp với tổ chức tín dụng cung cấp dịch vụ ứng trước tiền bán chứng khoán cho khách hàng, trong thời kỳ thanh tra, Công ty đã ký kết các Hợp đồng hợp tác 03 bên giữa Công ty với tổ chức tín dụng và khách hàng, theo đó tổ chức tín dụng cung cấp cho khách hàng của Công ty dịch vụ cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán đã được khớp lệnh; ngay khi tiền bán chứng khoán của khách hàng về tài khoản giao dịch chứng khoán, Công ty có trách nhiệm chuyển tổng số tiền khách hàng phải thanh toán về tài khoản tổng của nhà đầu tư mà Công ty mở tại tổ chức tín dụng, Công ty có trách nhiệm lập danh sách hoàn trả chi tiết gửi cho tổ chức tín dụng đối chiếu và thực hiện thủ tục hoàn trả vay ứng trước của khách hàng.
Theo báo cáo, Công ty đã chấm dứt việc hợp tác với tổ chức tín dụng cho khách hàng vay ứng trước tiền bán từ ngày 22/09/2022. Từ ngày 01/01/2022 đến thời điểm kiểm tra, có 73 khách hàng đã sử dụng dịch vụ với tổng số tiền giải ngân là 460.337 triệu đồng. Tuy nhiên, việc Công ty phối hợp với tổ chức tín dụng cho khách hàng vay ứng trước tiền bán chứng khoán khi chưa được UBCKNN chấp thuận bằng văn bản là vi phạm quy định tại điểm e khoản 1 Điều 87 Luật Chứng khoán và điểm b khoản 1 Điều 86 Luật Chứng khoán.
Chứng khoán PSI bố trí người chưa có chứng chỉ hành nghề làm việc ở vị trí nhận lệnh giao dịch chứng khoán của khách hàng
Liên quan đến hoạt động môi giới, tại ngày 18/12/2024, số lượng tài khoản giao dịch chứng khoán thường mở tại Công ty là 39.568 tài khoản. Kết quả kiểm tra chọn mẫu một số thời điểm đặt lệnh của các tài khoản nêu trên tại ngày 16/08/2023 và ngày 04/08/2023 cho thấy, Công ty cho khách hàng đặt lệnh mua chứng khoán khi không có đủ tiền trên tài khoản giao dịch chứng khoán, vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 7 Thông tư số 120/2020/TT-BTC ngày 31/12/2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định giao dịch cổ phiếu niêm yết, đăng ký giao dịch và chứng chỉ quỹ, trái phiếu doanh nghiệp, chứng quyền có bảo đảm niêm yết trên hệ thống giao dịch chứng khoán.
Ngoài ra, kết quả kiểm tra chọn mẫu phiếu lệnh cho thấy, một số nhân viên không có chứng chỉ hành nghề (CCHN) chứng khoán ký ở phần nhân viên nhận lệnh trên phiếu lệnh của một số khách hàng vào các ngày 16/08/2023, 04/08/2023 và 12/07/2024. Như vậy, Công ty đã bố trí nhân viên chưa có CCHN chứng khoán làm việc ở vị trí nhận lệnh giao dịch chứng khoán của khách hàng, vi phạm quy định tại điểm c khoản 1 Điều 13 Thông tư số 121/2020/TTBTC.
Cuối cùng, kết quả thanh tra chỉ rõ doanh nghiệp này có nhiều vi phạm, sai sót trong công bố thông tin.
Trong thời kỳ thanh tra, Công ty đã thực hiện nghĩa vụ báo cáo theo quy định tại Thông tư số 121/2020/TT-BTC, thực hiện CBTT (định kỳ, bất thường) theo quy định tại Thông tư số 96/2020/TT-BTC ngày 16/11/2020 của Bộ Tài chính hướng dẫn CBTT trên thị trường chứng khoán, thực hiện báo cáo, CBTT liên quan đến TPDNRL theo quy định tại Nghị định số 153/2020/NĐ-CP, Nghị định số 65/2022/NĐ-CP. Tuy nhiên, Công ty còn có một số vi phạm, thiếu sót như không CBTT báo cáo kiểm toán tình hình sử dụng số tiền thu được từ các đợt chào bán TPDNRL còn dư nợ tại ngày 31/12/2022 và tại 30/6/2023, vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 21 Nghị định số 153/2020/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại khoản 16 Điều 1 Nghị định số 65/2022/NĐ-CP ngày 16/9/2022. HĐQT Công ty không thực hiện báo cáo ĐHĐCĐ tại cuộc họp gần nhất về các đợt chào bán TPDNRL của Công ty trong các năm 2021, 2022, 2023 theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 13 Nghị định số 153/2020/NĐ-CP.
Trong quá trình tiến hành thanh tra, Đoàn Thanh tra đã yêu cầu Công ty có biện pháp chấn chỉnh, khắc phục vi phạm, tồn tại, thiếu sót: chấn chỉnh việc nhận lệnh và thực hiện lệnh của khách hàng; tuân thủ quy định về việc cung cấp dịch vụ tài chính khác; tuân thủ chặt chẽ quy định về báo cáo, công bố thông tin; đảm bảo tuân thủ đầy đủ quy định về trách nhiệm của tổ chức tư vấn khi cung cấp dịch vụ liên quan đến phát hành TPDNRL; rà soát, chấn chỉnh công tác lưu trữ hồ sơ, tài liệu của Công ty theo quy định.
Đối với các vi phạm của Công ty, Thanh tra UBCKNN kiến nghị UBCKNN xem xét xử phạt vi phạm hành chính theo quy định pháp luật. Bên cạnh đó, Thanh tra UBCKNN yêu cầu Công ty thực hiện ngay các biện pháp chấn chỉnh, khắc phục sau thanh tra trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ký kết luận thanh tra. Báo cáo kết quả gửi về Thanh tra UBCKNN trong vòng 05 ngày, kể từ ngày hết thời hạn chấn chỉnh, khắc phục.
Trung Anh