11:36 23/09/2026

Xuất nhập khẩu vượt 825 tỷ USD, đà tăng thương mại đi cùng áp lực nội lực

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đã vượt 825 tỷ USD sau hơn 8 tháng, cho thấy quy mô thương mại tiếp tục mở rộng với tốc độ cao. Tuy nhiên, phía sau những con số tăng trưởng là bài toán về nhập siêu, sự phụ thuộc lớn vào nguyên liệu và linh kiện nhập khẩu cũng như khả năng tạo thêm giá trị của khu vực doanh nghiệp trong nước.

Kim ngạch tăng mạnh nhưng phụ thuộc đầu vào nhập khẩu còn lớn

Theo số liệu mới nhất, tính đến ngày 15/9/2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đã vượt 825 tỷ USD, tăng 29,4% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ trong 15 ngày đầu tháng 9, tổng trị giá hàng hóa xuất nhập khẩu đạt gần 55 tỷ USD.

Trong khoảng thời gian này, xuất khẩu mang về hơn 26 tỷ USD, trong khi nhập khẩu đạt 28,84 tỷ USD, khiến cán cân thương mại thâm hụt thêm hơn 2,82 tỷ USD. Tính lũy kế, mức nhập siêu đã lên khoảng 23,5 tỷ USD.

Đây không phải lần đầu cán cân thương mại ghi nhận mức thâm hụt lớn trong năm. Trong tháng 7, nhập siêu đạt 20,52 tỷ USD và đến hết tháng 8 vẫn ở mức 20,46 tỷ USD. Riêng tháng 8, xuất khẩu đạt 54,8 tỷ USD, tăng 3,2%, còn nhập khẩu ở mức 54,9 tỷ USD, giảm 3,1% so với cùng kỳ.

Xuất nhập khẩu vượt 825 tỷ USD đà tăng thương mại đi cùng áp lực nội lực
Kim ngạch xuất nhập khẩu vượt 825 tỷ USD, nhưng mức nhập siêu gia tăng. (Ảnh minh hoạ/TL)

Cơ cấu hàng hóa cho thấy một phần đáng kể dòng nhập khẩu vẫn đang phục vụ trực tiếp cho sản xuất và xuất khẩu. Tuy nhiên, mức độ phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài cũng bộc lộ khá rõ ở những nhóm hàng có giá trị thương mại lớn.

Trong 15 ngày đầu tháng 9, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt khoảng 9,6 tỷ USD xuất khẩu nhưng giá trị nhập khẩu lên tới 13,1 tỷ USD. Tính từ đầu năm, nhóm hàng này xuất khẩu khoảng 111 tỷ USD, trong khi nhập khẩu gần 175 tỷ USD.

Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng cũng cho thấy sự tương đồng khi giá trị nhập khẩu đạt gần 51 tỷ USD, cao hơn mức khoảng 50,7 tỷ USD xuất khẩu.

Ở nhiều nhóm nguyên liệu khác, lượng hàng nhập khẩu tiếp tục ở mức lớn để phục vụ sản xuất. Việt Nam đã chi khoảng 11 tỷ USD nhập khẩu vải, 8,2 tỷ USD cho thép, 6,7 tỷ USD than, 6,6 tỷ USD dầu thô và khoảng 9 tỷ USD xăng dầu.

Những con số này phản ánh đặc điểm của nền sản xuất định hướng xuất khẩu hiện nay: khi đơn hàng tăng, nhu cầu về nguyên liệu, linh kiện và máy móc từ bên ngoài cũng tăng theo. Vì vậy, mức tăng của kim ngạch xuất khẩu chưa thể được nhìn tách rời khỏi quy mô nhập khẩu đầu vào.

Vấn đề nằm ở chỗ giá trị nào được tạo ra tại Việt Nam sau khi những dòng nguyên liệu và linh kiện đó đi vào sản xuất. Nếu phần lớn giá trị vẫn nằm ở các công đoạn thiết kế, nguyên liệu, công nghệ hoặc linh kiện được cung cấp từ bên ngoài, tốc độ tăng trưởng về kim ngạch chưa chắc đi cùng mức tăng tương ứng về giá trị gia tăng trong nước.

Điều này đặt ra yêu cầu không chỉ mở rộng thương mại mà còn nâng khả năng cung ứng nội địa, tăng tỷ lệ tham gia của doanh nghiệp Việt vào những công đoạn có giá trị cao hơn.

Áp lực đơn hàng, chi phí và sức chống chịu của doanh nghiệp

Trong khi nhập khẩu tiếp tục đóng vai trò quan trọng đối với sản xuất, doanh nghiệp xuất khẩu cũng đang đối mặt nhiều sức ép hơn từ thị trường quốc tế.

Nông nghiệp, thủy sản, dệt may, da giày và đồ gỗ đều phải ứng phó với nhu cầu tiêu dùng chưa thực sự ổn định, cạnh tranh gia tăng và yêu cầu về tiêu chuẩn ngày càng cao. Trong điều kiện đó, doanh nghiệp không chỉ cần giữ đơn hàng mà còn phải bảo vệ biên lợi nhuận khi chi phí đầu vào và chi phí vận hành cùng tăng.

Ngành thủy sản cho thấy khá rõ sự phân hóa này. Tháng 8, xuất khẩu thủy sản đạt khoảng 1,1 tỷ USD, tăng 6,4% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, mức tăng này thấp hơn đáng kể so với tốc độ 11,9% ghi nhận trong 8 tháng đầu năm, với tổng kim ngạch khoảng 8 tỷ USD.

Tại Mỹ, kim ngạch thủy sản xuất khẩu trong tháng 8 giảm 3,8%, xuống khoảng 182 triệu USD. Riêng tôm giảm 12,6%, còn cá tra giảm tới 49,3%. Tính chung 8 tháng, xuất khẩu tôm giảm 11,7% và cá tra giảm 13,2%. Tại EU, xuất khẩu thủy sản tháng 8 cũng giảm 6,2%, trong khi cả 8 tháng sang Mỹ chỉ tăng 1,5%.

Những diễn biến này cho thấy tăng trưởng xuất khẩu đang chịu tác động trực tiếp từ sức mua tại từng thị trường. Khi đơn hàng khó đoán hơn, doanh nghiệp càng khó điều chỉnh giá để bù đắp chi phí.

Trong quá trình sản xuất, các khoản chi cho điện, nước, logistics, nhân công, lãi vay và tuân thủ tiêu chuẩn ngày càng tạo áp lực lên giá thành. Khi biên lợi nhuận bị thu hẹp, khả năng giảm giá để giữ khách hàng cũng hạn chế hơn.

Xuất nhập khẩu vượt 825 tỷ USD đà tăng thương mại đi cùng áp lực nội lực
Hoạt động xuất nhập khẩu tiếp tục mở rộng mạnh, nhưng doanh nghiệp Việt Nam vẫn cần nâng năng lực sản xuất và tăng tỷ lệ giá trị tạo ra trong nước. (Ảnh minh hoạ/TL)

Ở góc độ vĩ mô, nhập siêu không phải lúc nào cũng phản ánh một vấn đề tiêu cực. Nếu phần lớn hàng nhập khẩu là máy móc, thiết bị, nguyên liệu và linh kiện phục vụ sản xuất, đặc biệt cho các ngành hàng xuất khẩu, dòng nhập khẩu này có thể góp phần mở rộng năng lực sản xuất.

Nhưng hiệu quả cuối cùng phụ thuộc vào khả năng chuyển hóa các đầu vào nhập khẩu thành năng lực công nghệ, sản phẩm và giá trị gia tăng trong nước. Nếu doanh nghiệp Việt Nam chỉ đảm nhiệm những công đoạn có giá trị thấp, sự gia tăng của kim ngạch thương mại sẽ khó tạo ra tác động tương xứng đến sức mạnh nội tại của khu vực doanh nghiệp.

Trong khi đó, khả năng chống chịu của nhiều doanh nghiệp trong nước vẫn còn hạn chế. Khó tiếp cận vốn, chi phí tài chính, chi phí tuân thủ và tình trạng thiếu đơn hàng ổn định khiến một bộ phận doanh nghiệp phải thu hẹp quy mô hoặc rời thị trường.

Bởi vậy, đằng sau mốc 825 tỷ USD không chỉ là câu chuyện về quy mô thương mại mà còn là câu hỏi về chất lượng tăng trưởng. Để dòng chảy xuất nhập khẩu tạo ra nhiều giá trị hơn cho nền kinh tế, chính sách hỗ trợ cần hướng mạnh hơn tới giảm chi phí vốn, cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng, hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm thị trường và nâng năng lực cung ứng trong nước.

Về dài hạn, việc phát triển doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, tăng khả năng cung ứng nguyên liệu và linh kiện trong nước và nâng tỷ lệ nội địa hóa sẽ có ý nghĩa trực tiếp đối với cán cân thương mại. Khi doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất, mỗi đơn hàng xuất khẩu không chỉ tạo ra kim ngạch mà còn giữ lại nhiều giá trị hơn trong nền kinh tế.

Thanh Phong