Lấy Nhân dân làm trung tâm, lấy hiệu quả phục vụ làm thước đo của bộ máy nhà nước là tư tưởng xuyên suốt trong đường lối của Đảng. Từ cải cách tổ chức bộ máy đến hoàn thiện quản trị quốc gia, mọi đổi mới đều hướng tới mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân.
Hiệu quả phục vụ Nhân dân - thước đo cao nhất của mọi chính sách và bộ máy công quyền
Trong suốt tiến trình đổi mới đất nước, quan điểm “lấy dân làm gốc” luôn là tư tưởng xuyên suốt trong mọi chủ trương, đường lối của Đảng. Bước sang giai đoạn phát triển mới, yêu cầu xây dựng một nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả và phục vụ ngày càng tốt hơn cho người dân trở thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm.
Từ Nghị quyết số 18-NQ/TW khóa XII về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả được xem là dấu mốc quan trọng mở đầu cho quá trình cải cách mạnh mẽ bộ máy nhà nước. Bộ máy nhà nước không còn được tổ chức theo hướng “quản lý”, mà được thiết kế theo nguyên tắc tinh gọn, rõ chức năng, rõ trách nhiệm, rõ đầu mối và rõ hiệu quả, qua đó rút ngắn quy trình xử lý công việc và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Người dân giao dịch tại Trung tâm Phục vụ hành chính công hiện đại
Cùng với việc sắp xếp tổ chức, Đảng tiếp tục hoàn thiện tư duy xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo hướng hiện đại, kiến tạo và phục vụ, được khái quát và thể hiện trong Nghị quyết số 27-NQ/TW khóa XIII. Nếu Nghị quyết 18 đặt nền tảng tổ chức bộ máy thì Nghị quyết 27 hoàn thiện nền tảng thể chế và phương thức vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa - yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với quyền con người, quyền công dân, sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Nghị quyết 27 nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ nền hành chính quản lý sang nền hành chính phục vụ, từ tư duy điều hành bằng mệnh lệnh sang quản trị bằng pháp luật, bằng thể chế, bằng dữ liệu và bằng hiệu quả thực chất.
Nói cách khác, hiệu quả phục vụ Nhân dân trở thành thước đo cao nhất đối với chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị. Tư duy ấy cũng hoàn toàn phù hợp với xu thế quản trị hiện đại trên thế giới. Nhiều quốc gia không còn đánh giá chất lượng bộ máy công quyền dựa trên quy mô hay số lượng cán bộ mà dựa trên tốc độ xử lý công việc, mức độ minh bạch, khả năng cung cấp dịch vụ công và chỉ số hài lòng của người dân.
Đối với Việt Nam, điều này càng có ý nghĩa khi đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu tăng trưởng nhanh nhưng phải bền vững, dựa trên đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao năng suất lao động. Một nền hành chính hiện đại không chỉ giúp giải quyết thủ tục nhanh hơn mà còn góp phần giảm chi phí xã hội, cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và tạo thêm không gian phát triển cho doanh nghiệp.
Mỗi ngày thủ tục được rút ngắn, mỗi quy trình được đơn giản hóa hay mỗi khâu trung gian được cắt giảm đều mang lại lợi ích thiết thực cho người dân và nền kinh tế. Đó cũng là lý do vì sao cải cách tổ chức bộ máy chưa bao giờ được xem là mục tiêu cuối cùng.
Sự kế thừa và phát triển liên tục từ Nghị quyết 18 đến Nghị quyết 27 đã tạo nền tảng lý luận và thực tiễn để Trung ương tiếp tục hoàn thiện mô hình tổ chức của hệ thống chính trị trong giai đoạn mới. Đây cũng là tiền đề để Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV ban hành Kết luận số 76-KL/TW, đưa quá trình cải cách bước sang một giai đoạn phát triển cao hơn: không chỉ sắp xếp tổ chức bộ máy mà còn tập trung hoàn thiện phương thức vận hành, nâng cao năng lực quản trị quốc gia và lấy hiệu quả phục vụ Nhân dân làm tiêu chí cao nhất để đánh giá thành công của mọi chủ trương đổi mới.
Tiếp tục hoàn thiện mô hình quản trị quốc gia
Nếu Nghị quyết số 18-NQ/TW đặt nền móng cho việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy và Nghị quyết số 27-NQ/TW hoàn thiện tư duy xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, thì Kết luận số 76-KL/TW của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV có thể xem là bước phát triển tiếp theo trong tiến trình cải cách, chuyển trọng tâm từ “thiết kế bộ máy” sang “nâng cao chất lượng vận hành bộ máy”.
Đây là sự thay đổi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, điều quyết định thành công của cải cách là ở cách bộ máy đó vận hành trên thực tế, khả năng phối hợp giữa các cấp, các ngành, tốc độ xử lý công việc và mức độ đáp ứng yêu cầu của người dân, doanh nghiệp.
Chính vì vậy, sau hơn 1 năm triển khai mô hình tổ chức mới của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV đã dành nhiều thời gian đánh giá toàn diện những kết quả đạt được cũng như những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn.
Cán bộ xử lý hồ sơ trên hệ thống số, màn hình dịch vụ công
Kết luận số 76 khẳng định việc đổi mới tổ chức bộ máy là chủ trương đúng đắn, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Tuy nhiên, Trung ương cũng chỉ rõ rằng quá trình vận hành vẫn còn những điểm nghẽn về thể chế, cơ chế phân cấp, phân quyền, sự phối hợp giữa các cơ quan, chất lượng đội ngũ cán bộ và hạ tầng chuyển đổi số. Điều đó cho thấy tư duy cải cách của Đảng ngày càng đi vào chiều sâu, lấy hiệu quả thực chất làm tiêu chí thay vì chạy theo những thay đổi mang tính hình thức.
Điểm nổi bật nhất của Kết luận số 76 là yêu cầu tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp, gắn với đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số.
Nói cách khác, trọng tâm của giai đoạn cải cách hiện nay không còn là có bao nhiêu cơ quan, bao nhiêu đầu mối mà là mỗi cơ quan giải quyết công việc nhanh đến đâu, hiệu quả đến đâu và người dân được hưởng lợi như thế nào. Đây chính là bước chuyển từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy quản trị phát triển.
Trong phát biểu tại Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, xây dựng bộ máy thực sự tinh gọn nhưng phải mạnh, hiệu năng, hiệu lực và hiệu quả. Điều đáng chú ý, Tổng Bí thư nhiều lần nhấn mạnh việc đổi mới tổ chức bộ máy không phải là mục tiêu cuối cùng mà là phương tiện để phục vụ Nhân dân tốt hơn, tạo động lực mới cho phát triển đất nước.
Một điểm mới khác của Kết luận số 76 là yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế phân cấp, phân quyền theo nguyên tắc “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, nhưng đồng thời phải gắn với kiểm soát quyền lực, tăng cường thanh tra, kiểm tra và trách nhiệm giải trình. Đây là sự cân bằng cần thiết giữa mở rộng quyền chủ động của địa phương và bảo đảm tính thống nhất trong quản lý nhà nước.
Nếu phân quyền không đi kèm nguồn lực và cơ chế giám sát thì rất dễ dẫn đến tình trạng lúng túng trong tổ chức thực hiện. Ngược lại, nếu mọi việc đều tập trung ở cấp trên thì bộ máy sẽ chậm phản ứng, kéo dài thời gian xử lý và làm tăng chi phí cho người dân, doanh nghiệp.
Thực tiễn sau hơn một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã cho thấy nhiều chuyển biến tích cực. Tại Hà Nội, việc sắp xếp đơn vị hành chính gắn với đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số đã góp phần rút ngắn quy trình xử lý công việc, tỷ lệ người dân hài lòng đạt 98,95%. Trong khi đó, Quảng Ninh triển khai 100% thủ tục hành chính không phụ thuộc địa giới hành chính, đồng thời tinh gọn nhiều đầu mối trong lĩnh vực giáo dục và y tế, nâng cao hiệu quả quản lý ở cơ sở.
Thời gian giải quyết nhiều thủ tục hành chính giảm khoảng 40%, tỷ lệ hồ sơ đúng hạn đạt 95–97%; hơn 70% thủ tục được cung cấp trực tuyến và khoảng 60% hồ sơ được tiếp nhận qua môi trường số. Năm 2025, Hải Phòng dẫn đầu cả nước về Chỉ số cải cách hành chính (PAR Index) với 95,37% và Chỉ số hài lòng của người dân (SIPAS) đạt 91,12%. Các số liệu bước đầu cho thấy mô hình chính quyền địa phương hai cấp không chỉ tinh gọn bộ máy mà còn góp phần nâng cao hiệu quả quản trị và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Tuy nhiên, Trung ương cũng nhìn nhận thẳng thắn rằng mô hình mới vẫn còn những khó khăn cần tiếp tục hoàn thiện. Đó là sự chưa đồng đều về chất lượng đội ngũ cán bộ giữa các địa phương; hệ thống dữ liệu dùng chung và hạ tầng số chưa được kết nối đầy đủ; một số quy định pháp luật chưa theo kịp yêu cầu phân cấp, phân quyền; cơ chế phối hợp giữa các cấp chính quyền trong một số lĩnh vực còn thiếu thống nhất.
Chính vì vậy, Kết luận số 76 không đặt vấn đề thay đổi mô hình mà tập trung hoàn thiện thể chế, hoàn thiện quy trình và nâng cao năng lực vận hành. Quan điểm ấy cũng hoàn toàn phù hợp với xu hướng quản trị hiện đại trên thế giới, nơi chất lượng quản trị không được đo bằng quy mô của bộ máy mà bằng năng lực cung cấp dịch vụ công, khả năng ứng dụng công nghệ, mức độ minh bạch và sự hài lòng của người dân.
Có thể nói, Kết luận số 76 đã bổ sung một mắt xích quan trọng trong tiến trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nếu Nghị quyết 18 là bước khởi đầu của quá trình tinh gọn bộ máy, Nghị quyết 27 xác lập nền tảng lý luận của Nhà nước phục vụ, thì Kết luận số 76 chính là bước hoàn thiện về phương thức quản trị, đưa tư tưởng “lấy hiệu quả phục vụ Nhân dân làm mục tiêu cao nhất” trở thành yêu cầu xuyên suốt trong tổ chức và vận hành của toàn bộ hệ thống chính trị.
Hiệu quả phục vụ Nhân dân - Nền tảng của phát triển bền vững
Mục tiêu lớn mà Đảng hướng tới là xây dựng một Nhà nước thực sự kiến tạo phát triển, hoạt động vì lợi ích của Nhân dân, tạo dựng môi trường thuận lợi để mọi nguồn lực được khơi thông, mọi tiềm năng được phát huy và mọi thành quả phát triển đều hướng đến nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Đây cũng chính là tinh thần xuyên suốt được khẳng định trong các Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết số 27-NQ/TW về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được tiếp tục cụ thể hóa trong Kết luận số 76-KL/TW của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV.
Điểm gặp gỡ của tất cả các chủ trương này là đặt Nhân dân ở vị trí trung tâm của quá trình phát triển. Điều đó có nghĩa, mọi quyết sách về tổ chức bộ máy, cải cách thể chế, phân cấp, phân quyền, chuyển đổi số hay đổi mới phương thức lãnh đạo đều phải được đánh giá bằng một câu hỏi rất cụ thể: người dân được hưởng lợi gì, doanh nghiệp được tạo thuận lợi đến đâu và đất nước có phát triển nhanh, bền vững hơn hay không?
Người dân được phục vụ tại quầy hoặc sử dụng dịch vụ công trực tuyến
Chính những thay đổi tưởng như rất cụ thể ấy lại tạo nên sức mạnh của cải cách thể chế và là nền tảng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, chất lượng quản trị quốc gia sẽ ngày càng trở thành yếu tố quyết định.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các quốc gia duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian dài đều có điểm chung là sở hữu nền hành chính minh bạch, hiệu quả, trách nhiệm giải trình cao và luôn lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm của quá trình hoạch định chính sách.
Đối với Việt Nam, điều này càng có ý nghĩa khi dư địa tăng trưởng từ các yếu tố truyền thống đang dần thu hẹp, trong khi động lực mới phải đến từ đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, cải cách thể chế và nâng cao năng suất lao động.
Muốn khơi thông những động lực đó, trước hết phải xây dựng được một bộ máy đủ năng lực kiến tạo phát triển. Đó phải là bộ máy có khả năng dự báo tốt hơn, phản ứng chính sách nhanh hơn, phối hợp liên ngành hiệu quả hơn và giải quyết công việc dựa trên dữ liệu, công nghệ và trách nhiệm giải trình.
Đồng thời, đó cũng phải là bộ máy mà mỗi cán bộ, công chức thực sự chuyển từ tư duy “quản lý” sang tư duy “phục vụ”; từ việc thực hiện đúng quy trình sang chủ động giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra. Đây là yêu cầu không chỉ đối với từng cán bộ mà còn đối với toàn bộ hệ thống chính trị trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới.
Cùng với việc hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng số và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, việc phát huy vai trò giám sát của Nhân dân cũng là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả quản trị. Không chỉ giải quyết công việc mà còn phải tiếp thu phản ánh, hoàn thiện chính sách và không ngừng cải tiến chất lượng dịch vụ công.
Sự hài lòng của người dân vì thế không chỉ là kết quả của cải cách mà còn là động lực thúc đẩy cải cách tiếp tục đi vào chiều sâu. Trong tiến trình đó, chuyển đổi số sẽ tiếp tục đóng vai trò là công cụ quan trọng nhưng không phải là mục tiêu cuối cùng. Giá trị của công nghệ không nằm ở số lượng dịch vụ công trực tuyến hay tỷ lệ hồ sơ điện tử, mà ở khả năng giúp người dân tiếp cận dịch vụ công thuận tiện hơn, giúp doanh nghiệp giảm chi phí tuân thủ và giúp cơ quan nhà nước ra quyết định nhanh hơn, chính xác hơn trên cơ sở dữ liệu.
Nhìn từ tổng thể, có thể thấy quá trình đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị trong những năm qua không phải là những bước cải cách riêng lẻ mà là một chiến lược xuyên suốt, được triển khai theo lộ trình rõ ràng và ngày càng hoàn thiện. Từ Nghị quyết số 18-NQ/TW với yêu cầu tinh gọn bộ máy; đến Nghị quyết số 27-NQ/TW với mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện đại; và Kết luận số 76-KL/TW với yêu cầu tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương hai cấp, tất cả đều thống nhất ở một điểm: mọi cải cách đều phải hướng tới phục vụ Nhân dân tốt hơn và tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước.
Trong tiến trình đổi mới, mô hình tổ chức có thể tiếp tục được điều chỉnh, phương thức quản trị có thể tiếp tục hoàn thiện, nhưng mục tiêu không thay đổi: mọi cải cách đều phải hướng tới phục vụ Nhân dân ngày càng tốt hơn. Đó chính là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong các nghị quyết của Đảng và cũng là nền tảng để Việt Nam xây dựng một nền quản trị hiện đại, kiến tạo phát triển, đủ năng lực hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045.
Phượng Hòa