14:52 21/10/2026

Lãi suất cho vay giảm - NIM chịu sức ép

Lãi suất cho vay được định hướng giảm để hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đồng thời đặt ra bài toán bảo vệ biên lãi ròng (NIM), kiểm soát chi phí vốn và duy trì đà tăng trưởng lợi nhuận.

NIM đứng trước sức ép kép

Trong bối cảnh nhu cầu vốn của nền kinh tế tiếp tục ở mức cao, việc giảm lãi suất cho vay đang trở thành yêu cầu quan trọng nhằm chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp, nhưng phía sau mặt bằng lãi suất thấp hơn là áp lực ngày càng rõ đối với khả năng sinh lời của hệ thống ngân hàng, đặc biệt khi chi phí huy động chưa thể giảm tương ứng.

Theo phân tích của TCBS, trên cơ sở Công văn số 9608/NHNN-CSTT ngày 18/10/2026 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), các tổ chức tín dụng được yêu cầu tiết giảm chi phí, chia sẻ lợi nhuận và triển khai các giải pháp đồng bộ để hạ mặt bằng lãi suất. Cụ thể, lãi suất tiền gửi niêm yết đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên cần giảm tối thiểu 0,5 điểm phần trăm/năm; lãi suất cho vay được định hướng giảm 1,5–2 điểm phần trăm/năm, tập trung vào sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên.

Lãi suất cho vay giảm  NIM chịu sức ép
Ảnh: Minh họa

Đây là động thái có ý nghĩa tích cực đối với doanh nghiệp, nhất là những đơn vị đang chịu áp lực chi phí tài chính, dòng tiền và nhu cầu vốn lưu động. Tuy nhiên, đối với ngân hàng, yêu cầu giảm lãi suất cho vay đồng nghĩa với việc phải cân đối lại nguồn thu từ hoạt động tín dụng – lĩnh vực giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu thu nhập của nhiều nhà băng. Bởi khi lãi suất đầu ra giảm nhanh hơn chi phí đầu vào, NIM có xu hướng thu hẹp, kéo theo sức ép lên thu nhập lãi thuần và lợi nhuận.

Theo ước tính của TCBS, nếu phần dư nợ được điều chỉnh giảm lãi suất 1,5–2 điểm phần trăm/năm chiếm khoảng 3–5% tổng danh mục cho vay, NIM toàn ngành có thể giảm khoảng 0,03–0,07 điểm phần trăm, trong khi lợi nhuận trước thuế có thể giảm khoảng 2–4%. Mức độ tác động thực tế sẽ phụ thuộc vào tỷ trọng dư nợ thuộc diện ưu đãi, thời điểm điều chỉnh lãi suất và khả năng tiết giảm chi phí vốn của từng ngân hàng.

Điều đáng chú ý là việc giảm 0,5 điểm phần trăm lãi suất huy động niêm yết không đồng nghĩa chi phí vốn bình quân sẽ giảm tương ứng. Nguồn vốn huy động thực tế còn phụ thuộc vào cơ cấu tiền gửi, kỳ hạn, lãi suất của các khoản tiền gửi hiện hữu và nhu cầu thanh khoản. Trong khi đó, cạnh tranh huy động vốn vẫn hiện hữu khi nhu cầu tín dụng tăng cao.

Theo số liệu được TCBS dẫn trong báo cáo, đến giữa tháng 10/2026, tăng trưởng huy động vốn đạt 11,22%, trong khi tăng trưởng tín dụng đạt 11,44%. Khoảng cách giữa hai tốc độ đã thu hẹp so với trước, song chênh lệch tăng trưởng vẫn cho thấy áp lực cân đối nguồn vốn chưa hoàn toàn được giải tỏa. Vì vậy, dư địa giảm chi phí huy động trên thực tế giữa các ngân hàng sẽ không giống nhau.

Áp lực NIM cũng không phân bổ đồng đều. Các ngân hàng có tỷ trọng cho vay lĩnh vực ưu tiên lớn, thường xuyên triển khai chương trình tín dụng hỗ trợ hoặc có mặt bằng lãi suất cho vay vốn đã thấp có thể gặp nhiều thách thức hơn khi tiếp tục giảm lãi suất. Ngược lại, những ngân hàng có nguồn tiền gửi chi phí thấp, tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn cao, cơ cấu khách hàng ổn định và khả năng kiểm soát chi phí tốt có thêm dư địa bảo vệ biên lợi nhuận.

Như vậy, giảm lãi suất cho vay không nhất thiết khiến NIM của toàn hệ thống suy giảm với mức độ như nhau. Nhưng vấn đề cốt lõi là tốc độ điều chỉnh lãi suất đầu ra so với đầu vào, cùng khả năng tái cơ cấu danh mục tài sản sinh lãi và quản trị nguồn vốn của từng tổ chức tín dụng.

Lợi nhuận phân hóa, áp lực quản trị gia tăng

Sức ép lên NIM diễn ra trong bối cảnh triển vọng lợi nhuận ngân hàng năm 2026 vẫn được đánh giá tương đối tích cực, nhưng sự phân hóa giữa các tổ chức tín dụng ngày càng rõ nét. Theo báo cáo dự báo của MBS Research công bố cuối tháng 9/2026, lợi nhuận sau thuế quý III của các ngân hàng niêm yết trong danh mục theo dõi được dự báo tăng 19,1% so với cùng kỳ. Động lực chủ yếu đến từ tăng trưởng thu nhập lãi thuần và sự cải thiện của chi phí dự phòng tại một số ngân hàng.

Tuy nhiên, tăng trưởng lợi nhuận không đồng nghĩa NIM của toàn ngành đã phục hồi bền vững. Thu nhập lãi thuần vẫn có thể tăng nhờ quy mô tín dụng mở rộng, ngay cả khi biên lợi nhuận trên mỗi đồng tài sản sinh lãi bị thu hẹp. Bên cạnh đó, mức lợi nhuận cuối cùng còn phụ thuộc vào thu nhập ngoài lãi, chi phí hoạt động, chất lượng tài sản và mức trích lập dự phòng rủi ro tín dụng.

Sự khác biệt giữa các ngân hàng vì vậy có thể ngày càng lớn. Những tổ chức sở hữu quy mô khách hàng rộng, nguồn tiền gửi ổn định và khả năng huy động vốn với chi phí thấp có điều kiện chủ động hơn trong việc giảm lãi suất cho vay. Trong khi đó, các ngân hàng phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn có chi phí cao hoặc phải tăng cường huy động để đáp ứng tốc độ mở rộng tín dụng có thể chịu sức ép lớn hơn.

Ngoài bài toán lãi suất, yêu cầu nâng cao chất lượng tín dụng cũng khiến ngân hàng phải thận trọng hơn trong chiến lược tăng trưởng. Theo định hướng của NHNN, việc hỗ trợ lãi suất cần đi đôi với kiểm soát rủi ro, không hạ chuẩn cho vay, giám sát chặt các khoản nợ có dấu hiệu suy giảm chất lượng và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Điều này đặc biệt quan trọng với những lĩnh vực có quy mô dư nợ lớn, thời gian thu hồi vốn dài hoặc phụ thuộc nhiều vào diễn biến thị trường.

Nếu NIM thu hẹp đồng thời chi phí dự phòng gia tăng, lợi nhuận ngân hàng sẽ chịu sức ép từ cả phía thu nhập lẫn chi phí. Ngược lại, nếu các ngân hàng duy trì được chất lượng tài sản, cải thiện năng suất hoạt động và mở rộng nguồn thu dịch vụ, tác động tiêu cực từ biên lãi ròng giảm có thể được bù đắp một phần.

Trong những tháng cuối năm, bài toán đặt ra không chỉ là giảm lãi suất cho vay theo định hướng điều hành, mà còn là tối ưu hóa cơ cấu nguồn vốn, lựa chọn phân khúc khách hàng phù hợp và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản. Các ngân hàng cần cân đối giữa mục tiêu tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ nền kinh tế và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động.

Về dài hạn, NIM không nên được bảo vệ bằng cách duy trì mặt bằng lãi suất cho vay cao, mà cần dựa trên năng lực quản trị chi phí, chất lượng khách hàng, chuyển đổi số và đa dạng hóa nguồn thu. Trong bối cảnh chính sách lãi suất hướng tới hỗ trợ doanh nghiệp, khả năng thích ứng với biên lợi nhuận thấp hơn sẽ là yếu tố quan trọng quyết định sức cạnh tranh và tính bền vững của lợi nhuận ngân hàng.

Phượng Hòa