Trong bối cảnh vốn FDI đăng ký đạt hơn 50 tỷ USD sau 9 tháng năm 2026, trọng tâm không chỉ là thu hút thêm vốn ngoại, mà còn nâng cao chất lượng dự án, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và tăng liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Đề xuất thêm bốn hình thức hỗ trợ đầu tư
Chính phủ đề xuất bổ sung bốn hình thức hỗ trợ đầu tư trong dự thảo sửa đổi Luật Đầu tư, gồm hỗ trợ phát triển chuỗi cung ứng; hỗ trợ sản xuất, cải tiến sản phẩm và công nghệ; hỗ trợ đầu tư ban đầu, tạo tài sản cố định; hỗ trợ hợp tác giữa doanh nghiệp với cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp và tổ chức khoa học, công nghệ.
Các đề xuất này cho thấy định hướng thu hút đầu tư đang chuyển từ tập trung vào ưu đãi truyền thống sang hỗ trợ trực tiếp hơn cho hoạt động sản xuất, đổi mới công nghệ và phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp.
Trong đó, hỗ trợ phát triển chuỗi cung ứng được kỳ vọng tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất của các tập đoàn đa quốc gia. Khi năng lực cung ứng trong nước được cải thiện, doanh nghiệp nội địa có thêm cơ hội trở thành nhà cung cấp nguyên liệu, linh kiện và dịch vụ cho các dự án FDI, qua đó gia tăng giá trị giữ lại trong nền kinh tế.
Rộng cửa cho vốn ngoại chất lượng cao (Ảnh: Thành Chung)
Hỗ trợ sản xuất, cải tiến sản phẩm và công nghệ hướng đến nâng cao năng suất, khuyến khích doanh nghiệp đổi mới dây chuyền và phát triển sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Trong khi đó, hỗ trợ đầu tư ban đầu, tạo tài sản cố định có thể giúp giảm bớt áp lực nguồn lực khi triển khai dự án, tùy theo điều kiện và phạm vi hỗ trợ được quy định.
Đề xuất mở rộng chính sách hỗ trợ được đưa ra trong bối cảnh dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng trưởng tích cực. Theo số liệu của Cục Thống kê, Bộ Tài chính, tính đến ngày 30/9/2026, tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4% so với cùng kỳ năm trước. Vốn FDI thực hiện ước đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% và là mức cao nhất trong 9 tháng của 5 năm qua.
Trong tổng vốn đăng ký, vốn cấp mới đạt 29,24 tỷ USD với 3.108 dự án được cấp phép, tăng 6,2% về số dự án và gấp 2,4 lần về số vốn. Có 948 lượt dự án hiện hữu đăng ký tăng vốn thêm 14,15 tỷ USD, tăng 25,1%. Hoạt động góp vốn, mua cổ phần ghi nhận 2.335 lượt với tổng giá trị 6,97 tỷ USD, tăng 44%.
Diễn biến này cho thấy sức hấp dẫn của thị trường Việt Nam không chỉ đến từ các dự án mới mà còn từ nhu cầu mở rộng hoạt động của những nhà đầu tư đã hiện diện.
Xét theo lĩnh vực, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò chủ lực. Vốn đăng ký cấp mới của ngành đạt 13,38 tỷ USD. Nếu tính cả vốn đăng ký mới và tăng thêm, lĩnh vực này thu hút 21,82 tỷ USD, chiếm 50,3% tổng vốn đăng ký mới và tăng thêm.
Trong khi đó, hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 6,94 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm, chiếm 16%. Về vốn thực hiện, công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 17,40 tỷ USD, chiếm 82,6% tổng vốn FDI giải ngân; bất động sản đạt 1,59 tỷ USD, tương đương 7,5%.
Cơ cấu này cho thấy sản xuất công nghiệp vẫn là động lực chính trong thu hút và hấp thụ vốn ngoại. Đồng thời, dòng vốn vào bất động sản phản ánh nhu cầu phát triển dự án và cơ sở vật chất phục vụ hoạt động kinh tế, trong đó có hạ tầng sản xuất và logistics.
Về đối tác, Singapore dẫn đầu về vốn đăng ký cấp mới với 9,26 tỷ USD, tiếp đến là Hàn Quốc với 5,70 tỷ USD, Luxembourg với 4,99 tỷ USD, Hồng Kông (Trung Quốc) với 3,01 tỷ USD và Trung Quốc với 2,27 tỷ USD.
Cải thiện và nâng chất lượng dòng vốn
Bên cạnh các hình thức hỗ trợ mới, dự thảo Luật Đầu tư hướng tới hoàn thiện điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài, đổi mới chính sách ưu đãi và hỗ trợ, cải cách thủ tục đầu tư, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động đầu tư.
Nếu được triển khai đồng bộ, những thay đổi này có thể giúp nhà đầu tư giảm chi phí tuân thủ, tăng khả năng dự báo chính sách và thuận lợi hơn trong quá trình triển khai dự án. Đây là những yếu tố có ý nghĩa không kém các ưu đãi về thuế hay chi phí đầu tư.
Dự thảo cũng đề cập cơ chế hỗ trợ đặc biệt đối với một số dự án quy mô lớn, có khả năng tạo tác động lan tỏa và phù hợp với định hướng phát triển. Việc gắn hỗ trợ với các cam kết của nhà đầu tư có thể giúp chính sách hướng nhiều hơn đến kết quả thực tế, thay vì chỉ căn cứ vào quy mô vốn đăng ký.
Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút FDI ngày càng lớn, Việt Nam không thể chỉ dựa vào lợi thế chi phí lao động, vị trí địa lý hay ưu đãi đầu tư. Chất lượng hạ tầng, nguồn nhân lực, năng lực của doanh nghiệp cung ứng nội địa, khả năng bảo đảm năng lượng và hệ sinh thái công nghệ sẽ ngày càng ảnh hưởng đến quyết định đầu tư dài hạn.
Vì vậy, các chính sách hỗ trợ cần đi cùng chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ, đào tạo nhân lực và nâng cấp năng lực doanh nghiệp trong nước. Khi doanh nghiệp Việt Nam đủ khả năng đáp ứng tiêu chuẩn về chất lượng, công nghệ và quản trị, cơ hội tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn quốc tế sẽ lớn hơn.
Mặt khác, việc mở rộng ưu đãi cần gắn với tiêu chí minh bạch và cơ chế giám sát hiệu quả, bảo đảm cân đối giữa lợi ích thu hút đầu tư với yêu cầu về môi trường, lao động và phát triển bền vững. Những hỗ trợ dành cho nhà đầu tư cần hướng tới kết quả cụ thể như tạo việc làm chất lượng cao, nâng cao năng lực sản xuất, đổi mới công nghệ và tăng liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Với hơn 50 tỷ USD vốn FDI đăng ký trong 9 tháng năm 2026, Việt Nam đang đứng trước cơ hội tiếp tục mở rộng quy mô dòng vốn ngoại. Tuy nhiên, vốn đăng ký tăng chưa đồng nghĩa với năng suất, năng lực công nghệ hay giá trị gia tăng trong nước được cải thiện tương ứng.
Do đó, ý nghĩa của việc sửa đổi Luật Đầu tư không chỉ nằm ở việc mở rộng cánh cửa đón vốn ngoại, mà còn ở khả năng định hướng dòng vốn vào những lĩnh vực có giá trị gia tăng cao, tạo sức lan tỏa và đóng góp lâu dài cho nền kinh tế. Khi thủ tục minh bạch, chính sách ổn định và liên kết trong nước được củng cố, FDI mới thực sự trở thành động lực bền vững cho tăng trưởng và nâng cao vị thế của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Phượng Hòa